Dẫn nhập

Đăng ngày

Dẫn nhập

  1. Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Tín lý “Ánh Sáng Muôn Dân”, sau khi trình bày giáo huấn Công giáo về bản chất việc sùng kính Thánh Mẫu của Chúa Kitô, đã “khuyến khích hết mọi con cái hãy nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Đức Nữ Trinh, nhất là trong phụng vụ”.[1] Đồng thời, trong Hiến chế Phụng Vụ thánh, Công đồng đã mô tả kinh nghiệm của Hội Thánh hoàn vũ về việc tôn kính Đức Trinh Nữ trong phụng vụ: “Trong khi cử hành các mầu nhiệm của Chúa Kitô theo chu kỳ hằng năm như thế với một tình yêu đặc biệt, Giáo Hội tôn kính Đức Maria vinh hiển, Mẹ Thiên Chúa, Đấng đã nối kết với công trình cứu chuộc của Con Người bằng mối dây bất khả phân ly. Nơi Mẹ, Giáo Hội ngưỡng mộ và tán tụng thành quả tuyệt diệu của công trình cứu chuộc, và vui mừng chiêm ngắm nơi Mẹ, như trong hình ảnh tinh tuyền trọn hảo, điều mà toàn thể Giáo Hội ước mong và trông đợi”.[2]
  2. Với sự cổ vũ của Công đồng và từ kinh nghiệm ngàn đời của Hội Thánh, Tòa Thánh được thôi thúc để đẩy mạnh lòng sùng kính đúng đắn đối với Mẹ Thiên Chúa. Do đó, trong lãnh vực phụng vụ, lòng sùng kính hướng về Đức Trinh Nữ Maria có một nội dung phong phú và được lồng vào tiến trình của năm phụng vụ một cách có hệ thống.[3]
  3. Quả thực, trong Niên Lịch chung, Phụng Vụ của Hội Thánh Lamã cống hiến cho các tín hữu rất nhiều dịp để kính nhớ sự thông phần của Đức Thánh Trinh Nữ vào mầu nhiệm cứu độ: Phụng vụ cũng cung cấp những chứng từ quí giá về lòng sùng kính Đức Maria không chỉ trong Sách Lễ và Kinh Phụng Vụ, mà còn trong các sách phụng tự khác, một vài sách trong số đó chứa đựng những việc cử hành phù hợp để kính nhớ Người Mẹ khiêm nhu và vinh hiển của Chúa Kitô.[4]

I.
ĐỨC TRINH NỮ MARIA
TRONG VIỆC CỬ HÀNH MẦU NHIỆM CHÚA KITÔ

  1. Cùng với các thánh, phụng vụ cử hành công trình cứu độ được hoàn tất bởi Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần – ơn cứu độ được loan báo cho các tổ phụ và các ngôn sứ. “Lý do sự hiện hữu của chương trình cứu rỗi thời Cựu Ước, là để chuẩn bị và tiên báo ngày xuất hiện của Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc muôn loài (x. Lc 24, 44; Ga 5, 39; 1P 1, 10) và ngày khai nguyên nước Thiên Sai, đồng thời biểu thị các biến cố ấy dưới nhiều khuôn mẫu khác nhau”.[5]
  • ơn cứu độ đã biểu lộ cách tròn đầy nơi Chúa Kitô Giêsu, Con Thiên Chúa, nhập thể trong cung lòng trinh khiết của Đức Maria làng Nadarét, trung gian của Giao Ước mới và vĩnh cửu. Với mầu nhiệm Phục Sinh, Chúa Kitô đã giao hòa nhân loại với Chúa Cha (x. Cl 1, 22; 2Cr 5, 18-19), và tuôn đổ trên loài người Thần Khí nghĩa tử (x. Rm 8, 15-17; Gl 4, 5-6), kết hợp mọi người nên một nơi chính Ngài, để làm cho họ có khả năng dâng tiến trong tinh thần và trong sự thật (x. Ga 4, 23) một hiến lễ đẹp lòng Chúa Cha.
  • ơn cứu độ kéo dài trong “thời gian của Hội Thánh” qua việc loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích (x. Mt 28, 18-20): chúng bảo đảm rằng các thế hệ tiếp nối trong lịch sử gắn bó với Lời cứu độ và được đưa vào mầu nhiệm Mùa Phục Sinh.
  • ơn cứu độ sẽ nên tròn đầy và hoàn tất ở tầm mức hoàn vũ trong cuộc tái lâm vinh hiển của Chúa Kitô (x. Mt 24, 30; Cv 1, 11), khi Ngài tiêu diệt sự chết, đặt mọi sự dưới chân và trao Vương Quốc Thiên Chúa cho Chúa Cha (x. 1Cr 15, 24-28).
  1. Khi cử hành các mầu nhiệm thần linh, Hội Thánh cử hành toàn bộ công trình cứu độ; khi cử hành như thế Hội Thánh hiện thực hóa các biến cố quá khứ và, trong “phụng thờ hôm nay”,[6] thực hiện ơn cứu độ của các tín hữu, là những người dẫu đang lữ hành trên trần thế, được hướng về thành đô tương lai (x. Dt 13, 14). Đức Trinh Nữ Maria, theo kế hoạch của Thiên Chúa và do mầu nhiệm Chúa Kitô và của Hội Thánh, “đã mật thiết gắn liền với lịch sử cứu rỗi”,[7] và hiện diện cách tích cực, đa dạng và tuyệt diệu vào các mầu nhiệm cuộc đời của Chúa Kitô.
  2. Nguồn gốc hiện hữu và giá trị của các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria bắt nguồn từ sự tham dự mật thiết của Mẹ trong lịch sử cứu độ. Quả thực, khi tán dương vai trò của Đức Maria trong công trình cứu chuộc hoặc các đặc ân của Mẹ, Hội Thánh tán dương trước tiên các biến cố cứu độ nhờ đó, bởi ý định của Thiên Chúa, Đức Thánh Trinh Nữ đã được thông phần, vì mầu nhiệm Chúa Kitô.

Trong các Thánh lễ về Đức Maria Hội Thánh cử hành những sự can thiệp của Thiên Chúa vì ơn cứu độ của loài người.

  1. Trong các biến cố cứu độ này, ngay từ đầu năm phụng vụ, Hội Thánh cử hành công trình Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Người Mẹ tương lai của Đấng Cứu Thế, theo đó, “sau đêm dài mong đợi lời hứa được thực hiện, với Ngài, người Thiếu Nữ cao sang của Sion, thời gian đã nên trọn và Nhiệm Cuộc mới được thiết lập”.[8] Quả thực, Thiên Chúa đã bao bọc Đức Maria bằng ân sủng của Người và ngay từ giây phút đầu tiên của sự thụ thai, Người đã gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, đổ tràn trên Mẹ ân huệ của Thánh Thần và, do đó, không ngừng gìn giữ Mẹ bằng tình yêu của Người, thực hiện nơi Mẹ “biết bao điều cao cả” (x. Lc 1, 49) vì ơn cứu độ của loài người.
  2. Sau đó, Hội Thánh cử hành sự can thiệp của Thiên Chúa trong việc nhập thể của Ngôi Lời và trong biến cố giáng sinh của Chúa Kitô; trong việc tỏ mình ra cho các mục đồng, hoa quả đầu mùa của Hội Thánh bắt nguồn từ người Do Thái (x. Lc 2, 15-16), và cho các đạo sĩ, hoa quả đầu mùa của Hội Thánh xuất phát từ dân ngoại (x. Mt 2, 1-12); và trong các giai đoạn khác thuở ấu thời của Đấng Cứu Thế: là những biến cố cứu độ mà Đức Maria đã tham dự một cách mật thiết. Vì thế các mẫu lễ này, trong đó có không ít đã được kính nhớ từ lâu đời và chúng có một giá trị phụng vụ đặc biệt; chúng tôn vinh các mầu nhiệm thời thơ ấu của Chúa Kitô và cùng nhau tưởng niệm và làm sáng tỏ sự thông dự và vị trí của Mẹ Thiên Chúa trong các biến cố ấy.
  3. Vì thế, khi cử hành các biến cố cứu độ mà Chúa Cứu Thế hoàn tất trong cuộc đời công khai của Ngài, trong đó Chúa Cha đã hành động cách kỳ diệu, Hội Thánh cũng kính nhớ Đức Thánh Trinh Nữ, vì Mẹ “đã tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa Kitô”.[9] Mẹ “cũng đã xuất hiện rõ ràng, và ngay từ đầu, trong tiệc cưới thành Cana xứ Galilêa, vì động lòng thương xót, Ngài đã cầu bầu, khiến Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai, làm phép lạ đầu tiên của Người (x. Ga 2, 1-11). Trong thời gian Chúa truyền đạo, Đức Maria đã đón nhận lời của Con Ngài, những lời nâng cao Nước Trời lên khỏi những lý do và liên hệ huyết nhục, và tuyên bố là có phúc cho những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa (x. Mc 3, 35 và song song; Lc 11, 27-28) như chính Ngài hằng thực hành những điều đó cách trung tín (x. Lc 2, 19; 51)”.[10]
  4. Nhưng trước tiên Hội Thánh cử hành công trình của Thiên Chúa trong mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô, và trong đó nhận ra Mẹ luôn kết hợp mật thiết với Con: quả thật, trong cuộc thương khó của Chúa Con, “Đức Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra”;[11] trong cuộc phục sinh của Ngài, Mẹ đã vui mừng khôn tả;[12] sau khi Ngài lên trời, Mẹ đã hợp nhất trong lời cầu nguyện cùng với các Tông Đồ và các môn đệ đầu tiên nơi Nhà Tiệc Ly, “tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Đấng đã bao phủ lấy Mẹ trong ngày Truyền Tin”.[13]

Sự hiện diện của Chúa Kitô trong các cử hành phụng vụ.

  1. Sau khi Chúa Kitô lên trời vinh hiển, công trình cứu độ tiếp diễn qua việc cử hành phụng vụ, là điều cách hữu lý, được xem là giờ phút cuối cùng của lịch sử cứu độ. Quả thực, trong phụng vụ, Chúa Kitô thực sự hiện diện một cách đa dạng:[14] Ngài là đầu, chủ tọa cuộc hội họp phụng thờ, nhờ đó các chi thể được nâng lên phẩm giá vương đế; Ngài là thầy dạy, tiếp tục công bố Tin Mừng cứu độ; Ngài là tư tế, hiến dâng lễ hy sinh của luật mới và chuyển cầu cách hiệu nghiệm với Chúa Cha cho loài người (x. Dt 7, 25); Ngài là anh cả (x. Rm 8, 29), hợp nhất lời của mình với tiếng nói của vô số anh em. Trong các cử hành phụng vụ, khi đón nhận lời đức tin và tham dự “trong Thánh Thần”, các tín hữu gặp gỡ Đấng Cứu Thế và được đưa vào trong biến cố cứu độ cách sống động.

Hiệp thông với ĐứcThánh Trinh Nữ
trong các cử hành phụng vụ

  1. Cũng vậy, được vinh hiển lên trời và được tôn vinh bên cạnh Chúa Con, Vua các vua và Chúa các chúa (x. Kh 19, 16), Đức Thánh Trinh Nữ không rời bỏ sứ mạng cứu độ Chúa Cha đã giao phó, “nhưng Ngài vẫn tiếp tục liên lỉ cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ của phần rỗi đời đời”.[15] Với những tương quan hợp nhất Hội Thánh với Đức Maria, Hội Thánh “muốn sống mầu nhiệm Chúa Kitô”[16] với Mẹ và như Mẹ, không ngừng kinh nghiệm rằng Đức Thánh Trinh Nữ luôn ở bên cạnh mình, nhất là trong phụng vụ thánh, như người mẹ và như đấng cứu giúp.
  2. Quả thực, tự bản chất, Phụng Vụ tạo điều kiện, thực hiện và biểu lộ cách tuyệt vời sự hiệp thông không chỉ với các Hội Thánh tản mát khắp mọi nơi, mà còn với các chân phúc trên trời, với các Thiên thần và các Thánh và, trên hết, với Mẹ vinh hiển của Thiên Chúa. Vì thế, trong sự kết hiệp thân mật với Đức Trinh Nữ[17] và kéo dài sự thông hiệp đó nơi các hành vi phụng tự,[18] Hội Thánh cử hành các mầu nhiệm thánh, để “tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn hảo và thánh hóa mọi người”.[19]
  • hợp với Đức Mẹ dâng lời chúc tụng và tôn vinh Chúa Cha bằng chính bài ca tạ ơn và ngợi khen của Mẹ; [20]
  • cùng với Mẹ lắng nghe và chuyên cần suy gẫm Lời Chúa;[21]
  • với Mẹ ao ước tham dự vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô[22] và được dự phần vào công trình cứu chuộc;[23]
  • như Mẹ khi ở Nhà Tiệc Ly, cùng với các Tông Đồ, chuyên cần cầu xin Chúa Thánh Thần hiện xuống và liên tục khẩn nài ân huệ của Thánh Thần;[24]
  • với Mẹ, luôn tỉnh thức và sẵn sàng ra chào đón Chúa Kitô.[25]

Hơn nữa, khi cử hành các mầu nhiệm khác nhau, Hội Thánh không ngừng xin Mẹ chuyển cầu, tìm nương náu nơi sự bảo trợ của Mẹ,[26] khẩn nài Mẹ viếng thăm dân Chúa và tuôn đổ trên họ các ân lộc của Ngài.[27]

Gương mẫu của Đức Thánh Trinh Nữ
trong các cử hành phụng vụ

  1. Với hiệu năng hiện thực hóa của mình, phụng vụ thường xuyên đặt trước mắt các tín hữu dung mạo của Đức Maria làng Nadarét, đấng “đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thể và sự nghiệp của Con Ngài, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con Ngài”.[28] Vì vậy, trước hết trong các hành động phụng vụ, Mẹ của Chúa Kitô rực sáng như “gương mẫu của nhân đức”[29] và của sự cộng tác trung thành trong công trình cứu độ.
  2. Để diễn tả gương mẫu của Đức Thánh Trinh Nữ, kế thừa giáo huấn và ngôn ngữ của các Thánh Giáo Phụ, phụng vụ sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau: kiểu mẫu (modello), khi muốn làm sáng tỏ sự thánh thiện của Mẹ, giới thiệu Mẹ như nữ tì trung tín của Thiên Chúa và môn đệ tuyệt hảo của Chúa Kitô (x. Lc 1, 38; 2, 48) để các Kitô bắt chước; dung mạo (figura), khi muốn nói về cuộc đời và điều kiện hiện sinh của Đức Maria – trinh nữ, hiền thê, mẹ – là những hình ảnh báo trước đời sống của Hội Thánh và hướng dẫn Hội Thánh trong hành trình đức tin cũng như trong việc theo Chúa; hình ảnh (immagine), khi muốn nhấn mạnh rằng nơi Đức Maria, như đã được định dạng cách hoàn hảo với Con của Mẹ rồi, Hội Thánh “ngưỡng mộ và tán tụng thành quả tuyệt diệu của công trình cứu chuộc, và vui mừng chiêm ngắm nơi Mẹ, như trong hình ảnh tinh tuyền trọn hảo, điều mà toàn thể Giáo Hội ước mong và trông đợi”.[30]
  3. Vì thế, trong phụng vụ, Hội Thánh thúc đẩy các tín hữu bắt chước Đức Thánh Trinh Nữ trước hết về lòng tin và đức vâng phục là điều làm cho Mẹ yêu mến thuận theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Cách riêng, các bài tụng ca và các lời nguyện trình bày một loạt các nhân đức giàu có và sáng ngời mà Hội Thánh, nhờ được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần và trong kinh nghiệm trần thế của mình về cầu nguyện và chiêm ngắm, đã khám phá ra nơi Mẹ của Chúa Kitô.
  4. Gương mẫu của Đức Thánh Trinh Nữ, là điều lộ ra trong chính hành động phụng vụ, thúc đẩy các tín hữu làm cho mình phù hợp với Mẹ để trở nên phù hợp hơn với Con Thiên Chúa. Thậm chí, gương mẫu của Mẹ thúc đẩy họ cử hành các mầu nhiệm của Chúa Kitô bằng chính cảm thức và thái độ của Mẹ, là đấng đã ở bên Chúa Con trong biến cố giáng sinh, hiển linh, trong cái chết và sự sống lại của Ngài. Chính Mẹ khuyến khích họ giữ gìn cẩn thận Lời của Thiên Chúa và suy gẫm với lòng yêu mến; để hớn hở ngợi khen Thiên Chúa và cảm tạ Người với niềm vui; để trung thành phụng sự Thiên Chúa và anh chị em mình cũng như quảng đại hiến thân cho họ ngay cả mạng sống; để kiên trì cầu nguyện với Thiên Chúa và tin tưởng khẩn nài; để có lòng thương xót và khiêm nhường; để tuân giữ luật Chúa và thực hiện ý muốn của Người; để yêu mến Thiên Chúa trong mọi sự và trên mọi sự; để tỉnh thức chờ đợi Chúa đến.
  5. Trong việc cử hành các Thánh lễ về Thánh Nữ Maria, các linh mục và những ai có phận sự mục vụ trước hết cần giúp cho các tín hữu hiểu rằng hy tế Thánh Thể là việc tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô và mời gọi họ tham dự một cách đầy đủ và tích cực. Nhưng cũng liệu sao để làm sáng tỏ gương mẫu của Đức Maria, vì noi gương Mẹ là việc làm rất hữu ích giúp các tín hữu thánh hóa bản thân.

II.
BẢN CHẤT CỦA BỘ SƯU TẬP
CÁC THÁNH LỄ VỀ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

  1. Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria, đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chuẩn y và được Thánh Bộ Phụng Tự công bố, trước tiên nhằm đề xuất, trong khuôn khổ của lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, các việc cử hành phong phú về giáo huấn, đa dạng trong các mục tiêu cụ thể, để kính nhớ cách đúng đắn các biến cố cứu độ được hoàn thành bởi Chúa Cha nơi Đức Thánh Trinh Nữ, trong viễn tượng của mầu nhiệm Chúa Kitô và của Hội Thánh.
  2. Bộ Sưu Tập phần lớn hình thành từ các mẫu lễ riêng của các Hội Thánh và của các Hội Dòng chứ không chỉ từ chính Sách Lễ Roma.
  3. Bộ Sưu Tập này trước tiên dành cho:
  • các đền thờ kính Đức Maria, nơi cử hành thường xuyên các Thánh lễ tôn kính Thánh Nữ Maria; tuy vậy, để sử dụng Bộ Sưu Tập cần phải tuân theo các quy định ở các số 29-33 của phần Dẫn nhập này;
  • các cộng đoàn Hội Thánh muốn cử hành Thánh lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria trong các ngày thứ bảy của Mùa Thường Niên ; tuy vậy, họ cần tuân giữ điều được trình bày ở số 34 trong phần Dẫn nhập này.

Nhưng Bộ Sưu Tập cũng là một công cụ phụng tự có giá trị đối với các linh mục và các cộng đoàn Hội Thánh, trong những ngày mà “Quy chế tổng quát của Sách Lễ Roma” cho phép cử hành “các lễ ngoại lịch”, họ muốn cử hành Thánh lễ để kính nhớ Thánh Mẫu của Chúa.[31]

  1. Việc ban hành Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria, không tạo ra bất kỳ sự sửa đổi nào đối với Lịch Chung Roma, ban hành ngày 21/3/1969, hoặc đối với Sách Lễ Roma, ấn bản thứ hai xuất bản ngày 27/3/1975, hoặc đối với Sách Các Bài Đọc Trong Thánh lễ, ấn bản thứ hai ngày 21/1/1981, hoặc đối với các quy định hiện hành.

III.
CẤU TRÚC CỦA BỘ SƯU TẬP
CÁC THÁNH LỄ VỀ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

  1. 23. Hội Thánh, trong suốt năm phụng vụ, cử hành cách có tổ chức tất cả mầu nhiệm Chúa Kitô: từ sự tiền định đời đời nhờ đó Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, được đặt là nguyên lý và là đầu, cùng đích và sự viên mãn của loài người và của toàn thể tạo thành, cho tới khi Ngài tái lâm trong vinh quang, khi tất cả mọi sự sẽ hoàn tất nơi Ngài “để Thiên Chúa là mọi sự nơi mọi người”.[32]
  2. Nhưng vì Đức Thánh Trinh Nữ liên kết cách chặt chẽ với mầu nhiệm Chúa Kitô, Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria được sắp xếp theo cách tổ chức của năm phụng vụ. Vì thế, 46 bộ lễ của Bộ Sưu Tập, trước hết liên quan đến mầu nhiệm mà chúng cử hành, được phân bố theo các thời điểm khác nhau của năm phụng vụ: trong Mùa Vọng (3 bộ lễ), Mùa Giáng Sinh (6 bộ lễ), Mùa Chay (5 bộ lễ), Mùa Phục Sinh (4 bộ lễ), và Mùa Thường Niên (18 bộ lễ).
    Các bộ lễ trong Mùa Thường Niên được chia làm 3 phần:
  • Phần thứ nhất gồm 11 bộ lễ kính nhớ Mẹ Thiên Chúa, dưới các tước hiệu chủ yếu rút ra từ Sách Thánh, diễn tả mối tương quan giữa Đức Maria và Hội Thánh.
  • Phần thứ hai có 9 bộ lễ kính nhớ Thánh Mẫu của Chúa, dưới các tước hiệu biểu lộ sự cộng tác của Mẹ trong việc thúc đẩy đời sống tâm linh của các tín hữu.
  • Phần thứ ba bao gồm 8 bộ lễ cử hành việc kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, dưới các tước hiệu biểu lộ sự chuyển cầu đầy lòng thương xót của Ngài cho các tín hữu.

Cách sắp xếp này bảo đảm rằng các thời điểm và các phương cách cộng tác của Đức Thánh Trinh Nữ vào công trình cứu độ được cử hành trong thời gian phù hợp hơn cả của phụng vụ, và rằng đó là Thánh lễ trong ánh sáng của sự kết hợp mật thiết của Thánh Mẫu của Chúa với sứ vụ của Hội Thánh.

  1. Theo thói quen của Phụng Vụ Roma, Bộ Sưu Tập gồm có 2 tập:
  • tập thứ nhất chứa các lời nguyện, các ca nhập lễ và ca hiệp lễ, và phần phụ lục với vài mẫu ban phép lành trọng thể vào cuối Thánh lễ;
  • tập thứ hai chứa các bài đọc Kinh Thánh trong từng Thánh lễ, với thánh vịnh đáp ca và lời tung hô alleluia với câu xướng trước Tin Mừng.
  1. Trong tập thứ nhất, để tạo thuận lợi cho việc chuẩn bị cử hành Thánh lễ, có phần dẫn nhập nói lên bản chất lịch sử, phụng vụ và mục vụ của mỗi bộ lễ, trong đó giải thích cách vắn gọn nguồn gốc của việc kính nhớ hoặc tước hiệu của Đức Thánh Trinh Nữ; đôi khi, chỉ ra các nguồn của bộ lễ và trình bày giáo huấn nổi lên từ các bản văn Kinh Thánh và các lời nguyện.

IV.
VIỆC SỬ DỤNG BỘ SƯU TẬP
CÁC THÁNH LỄ VỀ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

  1. Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria sẽ đạt được mục tiêu mục vụ đề ra, nếu nó được sử dụng một cách đúng đắn.

Tôn trọng các thời điểm của Năm phụng vụ

  1. Trước tiên, việc sử dụng đúng đắn Bộ Sưu Tập đòi hỏi người cử hành phải tôn trọng các thời điểm của Năm phụng vụ. Vì thế các mẫu khác nhau phải được dùng đúng theo thời điểm phụng vụ được ấn định cho chúng. Tuy vậy, khi có lý do chính đáng, vài mẫu lễ có thể được dùng ngay cả trong các thời điểm phụng vụ khác, ví dụ:
  • lễ “Thánh Nữ Maria làng Nadarét”, được đặt giữa các lễ Mùa Giáng Sinh (số 8), có thể được cử hành cách phù hợp ngay cả trong Mùa Thường Niên, nếu một nhóm các tín hữu muốn tưởng nhớ cách sống của Đức Trinh Nữ ở Nadarét và giá trị mẫu mực của lễ này;
  • mẫu lễ “Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của sự giải hòa”, trong số các bộ lễ dành cho Mùa Chay (số 14), cũng có thể dùng ngay cả trong Mùa Thường Niên, khi Thánh lễ được cử hành nhằm mục tiêu khơi lên cảm thức về việc hòa giải và hòa hợp.

Trái lại, các mẫu lễ như “Đức Trinh Nữ Maria và mầu nhiệm hiển linh” (số 6) hoặc “Đức Trinh Nữ Maria trong mầu nhiệm phục sinh” (số 15), là những lễ thuộc về các thời điểm phụng vụ nhất định, chúng không thể được cử hành ngoài Mùa Giáng Sinh hay Mùa Phục Sinh.

a. Việc sử dụng Bộ Sưu Tập nơi các đền thờ kính Đức Maria

  1. Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria, như đã nói trên ở số 21, trước tiên được dành cho các đền thờ kính Đức Maria, vì ở những nơi này lòng đạo đức thực sự đối với Thánh Mẫu của Chúa được gia tăng và việc tôn kính Mẹ được nuôi dưỡng bằng tinh thần phụng vụ đích thực.

Các Hội Thánh địa phương sẽ có một lợi thế lớn, khi hoạt động mục vụ được hậu thuẫn mạnh mẽ và được tạo thuận lợi nhờ các sáng kiến và dấn thân tông đồ của các đền thờ kính Đức Maria. Quả thực, nơi các đền thánh – như Bộ Giáo Luật hướng dẫn – các tín hữu cần được cung cấp cách dồi dào hơn cả “những phương thế cứu rỗi như chuyên cần rao giảng Lời Chúa, cổ võ đời sống phụng vụ, đặc biệt bằng việc cử hành Thánh lễ và việc thống hối, cũng như thực hành các hình thức đạo đức bình dân đã được công nhận”.[33]

  1. Việc cử hành Thánh Thể là chóp đỉnh và như là điểm chủ yếu của tất cả hoạt động mục vụ trong các đền thánh: vô số những người hành hương tụ tập nơi các đền thánh đặc biệt ước ao tham dự Thánh lễ, các nhóm quy tụ ở các đền thờ để gặp gỡ học hỏi hay cầu nguyện, các tín hữu đến đó cách cá nhân để dâng lên Thiên Chúa các lời cầu xin hoặc để tĩnh tâm, nguyện gẫm.

Do đó, trong việc cử hành Thánh Thể phải hết sức cẩn thận để cho hành động phụng vụ, được phù hợp với các điều kiện riêng biệt của các tín hữu và của các nhóm, được đạt tới kết quả mẫu mực, và chính cuộc tụ họp cử hành các mầu nhiệm thánh có thể tạo ra một hình ảnh đích thực về Hội Thánh.[34]

  1. Thánh Bộ Phụng Tự thường ban cho các đền thờ kính Đức Maria năng quyền để cử hành thường xuyên Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria.

Trong việc sử dụng Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria, cần tuân giữ các điều sau:

  1. a) tuân giữ thời điểm phụng vụ, các Thánh lễ trong Bộ Sưu Tập có thể được cử hành trong mọi ngày, trừ những ngày được chỉ rõ ở các số 1-6 trong “Danh sách các ngày phụng vụ”;[35]
  2. b) tuy vậy, năng quyền về việc này theo nghĩa đen là: chỉ cho phép các linh mục hành hương hoặc khi Thánh lễ được cử hành cho một nhóm những người hành hương;
  3. c) trong Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, trừ phi chọn cử hành lễ kính trọng thể, người ta phải công bố các bài đọc Kinh Thánh được cung cấp trong Sách Bài Đọc ngày thường cho ngày mà Thánh lễ đó được cử hành.

“Lễ riêng” của các đền thánh

  1. Sự phù hợp của các bản văn dành cho tước hiệu riêng mà Đức Thánh Trinh Nữ được tôn kính trong các đền thánh, khiến cho những người hành hương – các linh mục cũng như các tín hữu – thường ưa thích cử hành “lễ riêng” của đền thánh hơn.

Tuy vậy, cần phải tránh việc bất chấp các mùa khác nhau trong Năm phụng vụ, người ta chỉ cử hành độc nhất “lễ riêng” của các đền thánh. Quả thực, cần phải khôn ngoan thay đổi mẫu Thánh lễ, để cung cấp cho các tín hữu, ngay cả qua việc cử hành Thánh Thể, một cái nhìn đầy đủ về lịch sử cứu độ và về sự hòa nhập đa dạng của Đức Trinh Nữ trong mầu nhiệm của Chúa Kitô và của Hội Thánh.

  1. Như một ví dụ, vài trường hợp được đề cập dưới đây qua đó, thay vì dùng “lễ riêng” của đền thánh, có thể sử dụng một trong các Thánh lễ của Bộ Sưu Tập.
  2. a) trong Mùa Vọng, Giáng Sinh, Mùa Chay và Phục Sinh trong đó các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ, được tiên liệu trong các phần của Bộ Sưu Tập, phù hợp cách hoàn hảo với các mầu nhiệm của Chúa Kitô đươc cử hành trong các thời điểm đó của phụng vụ;
  3. b) khi một mẫu lễ trong Bộ Sưu Tập phản ánh tốt hơn hoàn cảnh thực tế của Hội Thánh địa phương hay của một nhóm người hành hương;
  4. c) khi một nhóm hành hương lưu lại một đôi ngày ở đền thánh hoặc thường xuyên lui tới nơi đó.

b. Sử dụng Bộ Sưu Tập để kính nhớ
Đức Maria trong ngày thứ bảy

  1. Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Trinh Nữ Maria, như đã nói trên ở số 21, cũng dành cho các cộng đoàn Hội Thánh, “trong các ngày thứ bảy Mùa Thường Niên không có lễ nhớ buộc”,[36] thường cử hành lễ nhớ Thánh Nữ Maria và do đó muốn có một danh sách rộng hơn về các mẫu lễ để sử dụng.
  2. Thói quen dành ngày thứ bảy để kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, bắt nguồn từ các tu viện thời Charlemagne vào cuối thế kỷ thứ 9, đã mau chóng lan tỏa khắp châu Âu;[37] đã được đón nhận trong sách phụng vụ của nhiều giáo hội địa phương và đã trở nên di sản của các dòng tu sống đời tông đồ, là những dòng bắt đầu hưng thịnh vào đầu thế kỷ 13.

Với cuộc cải cách phụng vụ theo sau Công đồng Trento, thói quen này đã được đưa vào Sách Lễ Roma.

Cuộc canh tân phụng vụ bắt nguồn từ Công đồng Vaticanô II đã mang lại cho việc kính nhớ Thánh Nữ Maria trong ngày thứ bảy một sự nổi bật và hiệu năng mới: quả thật, cuộc cải tổ phụng vụ đã tạo ra nhiều dịp để kính nhớ Mẹ Thiên Chúa thường xuyên hơn, gia tăng số các mẫu lễ và các bài đọc sách thánh, và cuối cùng canh tân các lời nguyện.

  1. Nhiều cộng đoàn Hội Thánh cử hành việc kính nhớ Thánh Nữ Maria trong ngày thứ bảy như phần dẫn nhập cho ngày Chúa nhật, “ngày của Chúa”. Để chuẩn bị việc kính nhớ hàng tuần mầu nhiệm phục sinh của Chúa, họ suy niệm mầu nhiệm này qua việc kính nhớ Đức Thánh Trinh Nữ, khi Chúa Kitô an nghỉ trong mồ “trong ngày thứ bảy vĩ đại”, Mẹ là đấng duy nhất mạnh mẽ trong đức tin và đức cậy, cùng với tất cả các môn đệ, thức tỉnh chờ đợi sự phục sinh của Chúa.[38]

Việc kính nhớ Thánh Nữ Maria, cách “cổ kính […] và chừng mực”,[39] với nhịp điệu hàng tuần, gợi ý và giúp chúng ta nhớ rằng Đức Thánh Trinh Nữ luôn hiện diện và hoạt động trong đời sống của Hội Thánh.

c. Sử dụng Bộ Sưu Tập trong những ngày
cho phép cử hành “Thánh lễ tùy chọn” (messe facoltative)

  1. Theo “Quy chế tổng quát của Sách Lễ Roma”, trong những ngày thường Mùa Thường Niên, linh mục được phép cử hành các “Thánh lễ tùy chọn”,[40] cả khi với giáo dân hay không có giáo dân, trong trường hợp này có thể sử dụng một trong các Thánh lễ của Bộ Sưu Tập.

Nhưng nếu cử hành với sự tham dự của giáo dân, trong việc chọn mẫu lễ, linh mục “trước tiên phải quan tâm đến lợi ích thiêng liêng của các tín hữu, tránh áp đặt trên họ các sở thích riêng của mình. Trước hết, cố gắng không thường xuyên lược bỏ khi không có lý do chính đáng các bài đọc ấn định cho mỗi ngày từ Sách Bài Đọc ngày thường trong tuần: quả thực, Hội Thánh ước ao làm thế nào để cung cấp cho các tín hữu một bàn tiệc Lời Chúa phong phú hơn cả”.[41] Các linh mục và các tín hữu cần phải nhớ rằng lòng sùng kính Đức Thánh Trinh Nữ đích thực không đòi phải dâng nhiều lễ về Thánh Nữ Maria, mà hệ tại ở việc trong mỗi Thánh lễ tất cả – các bài đọc, thánh vịnh, bài giảng, lời cầu, dâng lễ vật… – được tiến hành cách cẩn thận, đúng đắn và với cảm thức phụng vụ sống động.

V.
LỜI CỦA THIÊN CHÚA TRONG BỘ SƯU TẬP
CÁC THÁNH LỄ VỀ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

  1. Để diễn tả và định nghĩa mục tiêu đặc thù của việc kính nhớ trong phụng vụ, cần có sự góp phần của cả các kinh nguyện và các bản văn Kinh Thánh. Từ đó chúng ta hiểu tại sao, từ ngàn xưa, việc cẩn thận chọn lựa các đoạn văn Kinh Thánh đã được chú trọng một cách đặt biệt, và thậm chí chúng ta hiểu tại sao trong Bộ Sưu Tập, mỗi mẫu lễ có một “lược đồ các bài đọc” (schema di letture) riêng cho việc cử hành Phụng vụ Lời Chúa.
  2. Các bài đọc Kinh Thánh trong Bộ Sưu Tập các Thánh lễ về Đức Thánh Trinh Nữ tạo nên một danh mục tra cứu rộng rãi và đa dạng, vốn được hình thành trong một quá trình nhiều thế kỷ, với sự đóng góp kinh nghiệm của các cộng đoàn Hội Thánh cả xưa và nay. Trong “danh mục tra cứu Kinh Thánh” này, chúng ta có thể phân biệt 3 loại bài đọc:
  3. a) các bài đọc, cả Tân Ước và Cựu Ước, có liên hệ trực tiếp tới cuộc đời và sứ mạng của Đức Trinh Nữ Maria hoặc chứa đựng các lời tiên báo ám chỉ đến Ngài;
  4. b) các bài đọc Cựu Ước vốn đã được áp dụng cho Thánh Nữ Maria từ ngàn xưa. Quả thực, các Sách Thánh, cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, đã được chính các Thánh Giáo Phụ xem như một “tập hợp duy nhất”, trọn vẹn về mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh; vì thế một số biến cố, dung mạo hay biểu tượng của Cựu Ước là hình ảnh báo trước hoặc gợi lên cách tuyệt diệu cuộc đời và sứ mạng của Đức Trinh Nữ Maria, nữ tử hiển vinh của Sion và là Mẹ của Chúa Kitô;
  5. e) các bài đọc Tân Ước, vốn không có liên hệ trực tiếp tới Đức Thánh Trinh Nữ, nhưng chúng được đề nghị cho việc cử hành kính nhớ Mẹ để làm sáng tỏ rằng, nơi Thánh Nữ Maria, môn đệ đầu tiên và tuyệt hảo của Chúa Kitô, rực sáng lên cách ngoại thường đức tin, đức ái, đức cậy, đức khiêm nhường, lòng thương xót, tâm hồn trong sạch…, là những nhân đức được tán dương trong Tin Mừng.
  6. Về “lược đồ các bài đọc” ấn định cho từng mẫu lễ trong Bộ Sưu Tập, cần tuân theo những điều sau:
  7. a) chỉ đề xuất hai bài đọc: bài đọc thứ nhất, từ Cựu Ước hoặc từ Tông đồ (nghĩa là từ các Thánh Thư hay từ Sách Khải Huyền), trong Mùa Phục Sinh lấy từ Sách Công Vụ Tông Đồ hay từ Sách Khải Huyền; bài đọc thứ hai, lấy từ các Tin Mừng;
  8. b) tuy vậy, nếu trong các cử hành trọng thể cách đặc biệt, linh mục và các tín hữu muốn công bố ba bài đọc, có thể thêm một bài rút ra hoặc từ các bản văn của Phần Chung về Đức Thánh Trinh Nữ hoặc từ các bản văn chứa trong Phần phụ lục của Sách Bài Đọc của Bộ Sưu Tập, tuân theo các tiêu chuẩn đã ấn định trong phần Dẫn nhập của Sách Bài Đọc số 78-81;
  9. c) các bài đọc chỉ định cho từng mẫu lễ trong Bộ Sưu Tập rõ ràng là những bài phù hợp hơn cả để cử hành việc kính nhớ cách riêng về Đức Thánh Trinh Nữ. Tuy vậy, điều này không loại trừ khả năng chủ tế có thể thay thế bằng các bài đọc phù hợp khác, được chọn từ những bài đề nghị trong phần Phần Chung Đức Trinh Nữ Maria hoặc trong phần Phụ Lục Sách Bài Đọc của Bộ Sưu Tập này.[42]
  10. Trong phần Phụng vụ Lời Chúa, cần tuân theo các qui định sau:
  11. a)   trong Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, để sự liên tục của bài đọc Sách Thánh không bị gián đoạn hoặc các bài đọc đặc trưng của mùa phụng vụ không bị bỏ qua quá thường xuyên, cần công bố các bài đọc được chỉ định cho mỗi ngày trong Sách Bài Đọc ngày thường, giữ điều đã qui định ở số 31 c);
  12. b)   trong Mùa Thường Niên, linh mục chủ tế cần phải quyết định “với sự nhất trí của các thừa tác viên và những người khác có giữ một phận vụ nào đó trong việc cử hành, kể cả giáo dân”,[43] nếu muốn chọn công bố các bài đọc được chỉ định trong Sách Bài Đọc của Bộ Sưu Tập hoặc các bài trong Sách Bài Đọc ngày thường.

VI.
CÁC THÍCH NGHI

  1. Các Hội Đồng Giám Mục có trách nhiệm thu thập và xuất bản bản văn của Bộ Sưu Tập này trong các ngôn ngữ bản địa khác nhau, theo các quy định hiện hành về việc phiên dịch ra ngôn ngữ các quốc gia,[44] để đáp ứng tính đa dạng ngôn ngữ và nét đặc trưng của các nền văn hóa khác nhau. Khi có cơ hội, cần thêm vào những giai điệu phù hợp với bài hát.
  2. Các Hội Đồng Giám Mục thậm chí có quyền thêm vào, trong một phụ lục phù hợp, các mẫu đã được chuẩn nhận, các Thánh lễ kính nhớ Đức Thánh Trinh Nữ liên quan đến các tước hiệu qua đó các tín hữu trong nước hoặc trong vùng bày tỏ lòng sùng kính Đức Maria.

[1] LG 67; N. 67: A.A.S. 57 (1965) p. 65.

[2] SC 103; N. 103: A.A.S. (1964) p. 125.

[3] Cfr Paolo VI, Esortazione apostolica, Marialis cultus, n. 2: A.A.S. (1974)
n.  117.

[4] Cfr ad es. Rituale Romano, De benedictionibus, Edizione Libreria Editrice
Vaticana, 1984, cap. XXIX, II. Orda benedictionis imaginis beatae Mariae
Virginis,
nn. 1004-1017, pp. 382-388; Rito per l’incoronazione dell’immagine
della beata Vergine Maria,
Edizione tip. it. Libreria Editrice Vaticana 1982.

[5] x. 1Cr 10,11; (DV 15). concilio vaticano II, Costituzione dogmatica sulla divina rivelazione, 
Dei  verbum, n. 15: A.A.S. (1966) p. 825.

[6] Cfr ad es. Liturgia delle Ore, 25 dicembre Natale del Signore, II Vespri ant.
al Magnificat; 2 febbraio Presentazione del Signore, II Vespri ant. al Magnificat; Ascensione del Signore, II Vespri ant. al Magnificat; domenica di Pentecoste, II Vespri ant. al Magnificat.

[7] LG 65; concilio vaticano II, Costituzione dogmatica sulla Chiesa, Lumen gentium, n. 65 : A.A.S. 57 (1965) p. 60.

[8] LG 55; Ibidem, n. 55: A.A.S. 57 (1965) p. 60.

[9] LG 66; Ibidem, n. 66: A.A.S. 57 (1965) p. 65.

[10] LG 58; Ibidem, n. 58: A.A.S. 57 (1965) p. 61.

[11] LG 58; Ibidem, n. 58: A.A.S. 57 (1965) p. 61.

[12] Liturgia delle Ore, Comune della beata Vergine Maria, I e II Vespri, Intercessioni (formulario alternativo).

[13] LG 59; concilio vaticano II, Costituzione dogmatica sulla Chiesa, Lumen gentium n. 59: A.A.S. (1965) p. 62.

[14] SC 6-7; Cfr concilio vaticano II, Costituzione sulla sacra liturgia,
Sacrosanctum Concilium,
nn. 6-7: A.A.S. (1964) pp. 100-101.

[15] LG 62; concilio vaticano II, Costituzione dogmatica sulla Chiesa, Lumen gentium, n. 62: A.A.S. 57 (1965) p. 63.

[16] paolo VI, Esortazione apostolica, Marialis cultus, n. 11: A.A.S. 66 (1974) p. 124.

[17] Cfr Messale Romano, Prece eucaristica I o Canone Romano, In comunione.

[18] Cfr paolo VI, Esortazione apostolica, Marialis cultus, nn. 16-20:  A.A.S. 66  (1974) pp. 128-132.

[19] SC 7; concilio vaticano II, Costituzione sulla sacra liturgia, Sacrosanctum       Concilium, n. 7: A.A.S. 56 (1964) p, 101.

[20] Cfr Messale Romano, 31 maggio Visitazione della beata Vergine Maria, Colletta; idib., Prefazio della beata Vergine Maria II.

[21] Cfr Rituale Romanum, De Benedictionibus, cap.IV, Ordabenedictionis prò coetu ad catechesim vel orationem faciendam congregato, Preces, n. 383, p. 147.

[22] Cfr Messale Romano, 15 settembre Beata Vergine Maria  Addolorata, Colletta; Rituale Romanum, De Benedictionibus,  cap. XXXIV, Orda benedicendi stationes «Viae crucis», Preces, n. 1108, p. 422.

[23] Cfr Messale Romano, Messa votiva di Maria Madre della Chiesa, Orazione sulle offerte.

[24] Cfr ibidem, Prefazio.

[25] Cfr Messale Romano, Messa votiva di Maria Madre della Chiesa, Prefazio.

[26] Liturgia delle Ore, Compieta, Antifona finale della beata Vergine Maria, Sotto la tua protezione.

[27] Cfr Liturgia delle Ore, 31 maggio Visitazione della beata Vergine Maria, Inno dell’Ufficio delle letture, Veni, praecelsa Domina.

[28] LG 56; concilio vaticano II, Costituzione dogmatica sulla Chiesa, Lumen gentium, n. 56: A.A.S. 57 (1965) p. 60.

[29] Ibidem, n. 65 : A.A.S. 57 (1965) p. 64.

[30] SC 103; concilio vaticano II, Costituzione sulla sacra liturgia, Sacrosanctum Concilium, n. 103: A.A.S. (1964) p. 125; cfr Messale Romano, 15 agosto, Assunzione della beata Vergine Maria, Prefazio.

[31] Cfr n. 316 e e n. 37.

[32] 1Cr 15, 28; Cfr concilio vaticano II, Costituzione sulla sacra liturgia, Sacrosanctum Concilium, n. 102: A.A.S. 56 (1964) p. 125; Calendario Romano Generale, in ed. tip. it., n. 1, p. LIV.

[33] Can. 1234; Codice di diritto canonico, can. 1234.

[34] SC 2; Cfr concilio vaticano II, Costituzione sulla sacra liturgia, Sacrosanctum Concilium, n. 2: A.A.S. 56 (1964) pp.97-98.

[35] I giorni indicati nella Tabella (Calendario Romano Generale n. 59, in ed. tip. it., 15 agosto 1983) sono:
1. Triduo pasquale della Passione e della Risurrezione del Signore.
2. Natale del Signore, Epifania, Ascensione, Pentecoste.
Domeniche di Avvento, Quaresima e Pasqua.
Mercoledì delle Ceneri.
Ferie della Settimana Santa, dal lunedì al giovedì.
Giorni dell’ottava di Pasqua.
3. Solennità del Signore, della beata Vergine Maria, dei santi, elencate nel Calendario generale.
Commemorazione di tutti i fedeli defunti.
4. Solennità proprie, cioè:
a) Solennità del Patrono principale del luogo o della città.
b) Solennità della dedicazione e dell’anniversario della dedicazione della propria chiesa.
c) Solennità del Titolo della propria chiesa.
d) Solennità o del Titolo o del Fondatore o del Patrono principale dell’Ordine o della Congregazione.
5. Feste del Signore, elencate nel Calendario generale.
6. Domeniche del Tempo di Natale e domeniche del Tempo Ordinario.

[36] Cfr Calendario Romano Generale, n. 15, in ed. tip. it., p. LV.

[37] Cfr bernaldo di costanza, Micrologus de ecclesiasticis observationibus, cap. 60: PL 151,1020.

[38] Cfr umberto de romanis, De vita regulari, cap. XXIV. Quare  sabbatum attribuitur baetae Virgini, voi. II. Roma, Ed. A. Befani, 1889, pp. 72-73.

[39] paolo VI, Esortazione apostolica Marialis cultus, n. 9: A.A.S. 66 (1974) p. 122.

[40] Cfr n. 316 e).

[41] Ibidem; cfr Lezionario della Messa, in ed. tip. it. 1982.  Introduzione, n. 83, p. XXX; concilio vaticano II,  Costituzione sulla sacra liturgia, Sacrosanctum Concilium, n.51: A.A.S. 56 (1964) p. 114.

[42] Cfr Lezionario per le celebrazioni dei santi, Comune della beata  Vergine Maria, ed. tip. it. 15 novembre 1972, pp. 512-563;  cfr Lezionario per le  Messe della beata Vergine Maria, Appendice nn. 1-21; pp. 189.

[43] Messale Romano, Principi e norme per l’uso del Messale  Romano, n. 313, in ed. tip. it., p. XLVI; cfr Lezionario della Messa, Introduzione, n. 78, in ed. tip. it., p. XXIX.

[44] Cfr consilium ad exsequendam constitutionem de sacra liturgia, Istruzione De popularibus interpretationìbus conficiendis: Notitiae 5 (1969) pp. 3-12; S. Congregazione per i Sacramenti e il Culto divino, Epistula ad PraesidesConferentiarum Episcopalium de linguis vulgaribus in S. Liturgiam inducendis: Notitiae 12 (1976) pp. 300-302.