Công Giáo với quan điểm sử dụng bao cao su và chiến dịch ngăn chặn HIV

Đăng ngày
#GNsP – Trên chuyến bay từ Phi Châu về Roma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trả lời cho các phóng viên về nhiều vấn đề, trong đó có một nhà báo đặt câu hỏi về việc sử dụng bao cao su trong chiến dịch ngăn chặn HIV.
 
Nhà báo đặt vấn đề như sau: “Chúng ta biết phòng bệnh chính là chìa khóa. Bao cao su không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết bệnh dịch, nhưng nó là phần quan trọng để giải quyết vấn đề. Phải chăng lúc này Giáo hội cần thay đổi quan điểm về vấn đề này? Cho phép sử dụng bao cao su để ngăn chặn lây nhiễm bệnh”.
 
ĐTC đã trả lời cho câu hỏi như sau: dường như là quá hạn hẹp để nói đến vấn đề to lớn và phức tạp này. Việc sử dụng bao cao su và bao cao su chính nó không bao giờ có thể giải quyết khủng hoảng HIV hoặc những vấn đề khác mà các quốc gia Phi Châu đang đối mặt.
 
“Câu hỏi này khiến tôi nhớ đến câu hỏi khác mà người ta từng chất vấn Chúa Giêsu: Thưa thầy, có được phép chữa bệnh vào ngày Sabat?” Dạng câu hỏi “Có được phép: có hay không”… những vấn đề khác cần lưu tâm hơn như: suy dinh dưỡng, sự phát triển nhân phẩm, tình trạng nô lệ, thiếu nước uống, đó mới chính là vấn đề”.
Giáo hội Cong giáo luôn xác quyết rằng những biện pháp tránh thai nhân tạo là vô đạo đức. Trong cuốn sách xuất bản năm 2010 “Cuộc phỏng vấn tạo nên làm sóng”, ĐTC Bênêdictô XVI cho biết ngay khi việc sử dụng bao cao su có thể tạo một bước đi đúng hướng trong việc quan tâm đến người khác, nó vẫn là một giải pháp vô đạo đức đối với cuộc khủng hoảng HIV.
 
Nhưng phải chăng ĐTC Phanxicô đã đúng khi khai trừ việc sử dụng bao cao su? Phải chăng bao cao su giữ vai trò quan trọng và thực tế trong chiến dịch chống HIV? Ngày càng có nhiều bằng chứng trả lời KHÔNG.
 
Tiết chế và trung thành trong hôn nhân ở Uganda
 
Vào thời khắc đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng HIV năm 1980, nước Uganda chiếm tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất –theo Washington Post- gần 25% dân số nước này nhiễm HIV cho đến năm 1991.
Với sự trợ giúp của các nhà lãnh đạo tôn giáo, tổng thống Uganda, ông Yoweri Museveni đã thông qua những biện pháp can thiệp đơn giản và ít tốn kém nhất có thể áp dụng cho đất nước nghèo và đang trong cảnh chiến tranh tàn phá này- một chương trình giáo dục cộng đồng nhấn mạnh sự tiết chế trước hôn nhân và lòng trung thành với hôn nhân sau đó, nhưng không nhấn mạnh đến viêc sử dụng bao cao su ngoại trừ trong trường hợp rủi ro. Chỉ trong vòng 8 năm đã giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HIV tại đất nước này.
 
Một bài báo năm 2004 trên tờ “Journal of International Development” đăng như sau: “việc không quảng bá bao cao su trong thập niên 1980 và 1990 đã đóng góp công lao to lớn cho sự thành công trong chiến lược thay đổi nhận thức ở Uganda.
Nhưng ngay vừa khi Uganda đang nhìn thấy sự giảm đáng kể, Hòa Kỳ nhảy vô can thiệp, tái thiết lập phương pháp tiếp cận và tập trung nhiều vào bao cao su hơn là sự tiết chế và hôn nhân một vợ một chồng. Trong bài báo có tên “op-ed” của tạp chí Washington Post, bác sỹ nhà nghiên cứu HIV hàng đầu Edward Green của đại học Harvard và Wilfred Mlay, phó chủ tịch World Vision tại Phi Châu, viết rằng trong khi Mỹ sẵn lòng đề nghị giúp đỡ, ý thức hệ và phương pháp Tây phương có vẻ thực sự đánh giá thấp thành công nhìn thấy trước đó ở Uganda.
 
Họ viết như sau “Sự xoay vòng của Uganda bắt đầu khi các chuyên gia AIDS nước ngoài đến vào đầu thập niên 1990 cùng với những phương pháp tiếp cận sức khỏe cộng đồng Tây phương. Họ bắt đầu trang bị lại những nỗ lực ngăn cản AIDS của Uganda khỏi sự tiết chế và chung thủy hôn nhân và cho rằng những thứ đó là không thực tế. Khi việc sử dụng bao cao su gia tăng, tỷ lệ người trẻ độc thân quan hệ tình dục tăng từ 27 % đến 37% từ năm 1995 đến 2000. Những nhà chức trách y tế lo lắng rằng tỷ lệ lây nhiễm cũng gia tăng”.
 
Không kể đến yếu tố tôn giáo, có một vài lý do chứng tỏ việc sử dụng bao cao su để ngăn chặn sự lây nhiễm HIV là có vấn đề.
Một trong những vấn đề lớn nhất của việc quảng bá bao cao su là giải pháp ngăn chặn HIV là hầu hết mọi người không sử dụng thường xuyên hoặc đúng cách, ngay cả khi vừa mới tham gia khóa học giáo dục giới tính.
 
Một bài báo nghiên cứu do tạp chí “The Annals of Pharmacotherapy” xuất bản phát hiện rằng trong 500 cặp đôi được bác sỹ nhiều lần khuyến cáo sử dụng bao cao su, chỉ có 8% sử dụng thường xuyên dù biết bạn tình bị nhiễm bệnh. Một bài nghiên cứu khác nhận thấy chỉ 50% những cặp đôi mà trong đó có một người bị HIV sử dụng bao cao su thường xuyên.
 
Một khía cạnh khác của vấn đề này là bồi thường rủi ro. Trong một phỏng vấn với BBC, giáo sư Green cho biết bồi thường rủi ro xảy ra khi người sử dụng kỹ thuật giảm rủi ro theo cách hiểu là kỷ thuật loại bỏ tất cả các rủi ro.
 
Trong lần phỏng vấn với BBC, bác sỹ Green đã so sánh việc sử dụng bao cao su với kem chống nắng. Ông cho biết sự bảo vệ của kem chống nắng đã bị loại bỏ khi người sử dụng cho rằng họ đã được bảo vệ hoàn toàn và vì thế cứ vậy ra nắng lâu hơn.
Tương tự như vậy, người sử dụng bao cao su có nguy cơ gặp rủi ro trong các hành vi tình dục vì ý nghĩ đã được bảo vệ an toàn, trong khi thực tế là nếu tiếp xúc với người bệnh nhiều sẽ giảm độ an toàn của bao cao su.
 
Hiện tượng bồi thường rủi ro cũng có nghĩa là người sử dụng bao cao su có khả năng có nhiều bạn tình, làm tăng rủi ro nhiễm một số bệnh lây lan qua đường tình dục theo đó làm gia tăng khả năng nhiễm HIV. Nhiều bệnh lây lan qua đường tình dục tạo ra những vết thương hở, là những con đường HIV có thể lây lan qua.
 
Một lý do khác chứng minh việc chỉ sử dụng bao cao su thất bại trong việc bảo vệ khỏi lây nhiễm HIV là do sự truyền bệnh theo thời gian. Theo một bài báo của tạp chí “The Lancet” năm 2001 cho rằng tần suất thay đổi bạn tình càng nhiều sẽ dẫn đến khả năng truyền bệnh HIV càng cao.
 
Điều này là do HIV rất dễ lây ngay cả trong lần giao hợp đầu tiên, nhưng lại không dễ phát hiện sau đó. Vì thế, một người đã nhiễm HIV có thể nghĩ rằng họ chưa bị và tiếp tục làm lây nhiễm cho thêm nhiều người khác trước khi họ phát hiện ra đã bị nhiễm HIV. Bài nghiên cứu cho biết nếu thời gian giữa hai lần quan hệ là ít nhất 6 tháng thì tỷ lệ bị nhiễm HIV sẽ giảm đáng kể.
 
Câu chuyện của hai quốc gia: Thái Lan và Philippines
 
Hai quốc gia khác biệt ở Châu Á sẽ giúp minh họa tính hiệu quả của chương trình sự tiết chế và chung thủy trong hôn nhân vượt qua sự quảng bá bao cao su.
 
Vào năm 1984, cả hai quốc gia báo cáo phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên. Nhưng hai chính quyền đã đưa ra những giải pháp khác nhau.
 
Thái Lan vận động sử dụng bao cao su trong khi Philippines lại tập trung vào sự tiết chế trước hôn nhân và lòng trung thành sau hôn nhân.
 
Cho đến năm 2005, tỷ lệ lây nhiễm HIV ở Thái Lan cao gấp 50 lần Philippines.
 
Và trong khi một số chuyên gia ca ngợi Thái Lan như là một tấm gương thành công hơn Philippines, vì tỷ lệ lây nhiễm thậm chí đã giảm so với mức trước đó, các chuyên gia khác cho rằng không có sự trùng hợp ngẫu nhiên khi chính Công Giáo, một tôn giáo ăn sâu vào văn hóa người dân Philippines đã giúp giảm tỷ lệ phơi nhiễm HIV.
 
Công Giáo và tỷ lệ nhiễm HIV
 
Mặc dù có một số chuyên gia dè dặt công nhận tính hiệu quả của chương trình sự tiết chế và chung thủy trong hôn nhân của Giáo hội Công Giáo, một bài báo thuộc tạp chí y tế Anh quốc năm 2005 đã ca ngợi thành công này.
Bài báo viết “Đất nước nào có tỷ lệ người Công Giáo càng cao thì tỷ lệ nhiễm HIV càng thấp. Nếu Giáo hội Công Giáo đẩy mạnh thông điệp về HIV ở những quốc gia này thì việc xúc tiến đạt hiệu quả”.
 
Theo dữ liệu của tổ chức y tế thế giới, ở Swaziland trong tổng số 42,6% dân số nhiễm HIV, Công Giáo chỉ chiếm 5%. Ở Botswana, trong số 37% dân số nhiễm HIV, chỉ 4% là Công Giáo. Ở Nam Phi, 22% dân số nhiễm HIV, Công Giáo chiếm 6%. Ở Uganda, với 43% Công Giáo, tỷ lệ người lớn nhiễm HIV là 4%.
Cũng vậy, giáo sư Green nhấn mạnh trong một bài báo năm 2009 rằng ông ủng hộ chương trình sự tiết chế và chung thủy trong hôn nhân không phải do bảo thủ nhưng từ chính kinh nghiệm bản thân khi ở Châu Phi và qua kết quả thu được.
 
“Tôi là một người theo chủ nghĩa tự do, không đi nhà thờ và cũng không bao giờ bầu cho đảng Cộng Hòa”.
 
Trong bài op-ed trước đó, ông củng thêm rằng sẽ là sai lầm nếu đặt chính trị và ý thức hệ trên cả mạng sống những người trong tình trạng nguy hiểm.
 
GNsP (theo CNA)