Suy niệm 2: TRANH I-CÔN

Đăng ngày

GNsP (30.03.2016) – Các đoạn Kinh Thánh gợi ý suy niệm:

Ga 14,8-11:

(8) Ông Philípphê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”.

(9) Ðức Giêsu trả lời:

“Thầy ở với anh em bấy lâu,

thế mà anh Philípphê,

anh chưa biết Thầy ư?

Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.

Sao anh lại nói:

‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’?

(10) Anh không tin rằng

Thầy ở trong Chúa Cha

và Chúa Cha ở trong Thầy sao?

Các lời Thầy nói với anh em,

Thầy không tự mình nói ra.

Nhưng Chúa Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy,

chính Người làm những việc của mình.

(11) Anh em hãy tin Thầy:

Thầy ở trong Chúa Cha

và Chúa Cha ở trong Thầy;

bằng không, thì hãy tin vì chính các việc kia vậy.

Tv 22,4-6.10-11.23-24

(4) Thế nhưng Chúa ngự nơi đền,
vinh quang của Ít-ra-en là Ngài.

(5) Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa,
họ cậy trông, Ngài đã độ trì,

(6) van nài liền được cứu nguy,
đã không thất vọng mỗi khi cậy Ngài.

(10) Ðưa con ra khỏi thai bào,
vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

(11) Chào đời con được dâng cho Chúa,
được Ngài là Chúa tự sơ sinh.

(23) Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa
cho anh em tất cả được hay,
và trong đại hội dân Ngài,
con xin dâng tiến một bài tán dương.

(24) Hỡi những ai kính sợ ÐỨC CHÚA,
hãy ca tụng Người đi!
Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp,
nào hãy tôn vinh Người!
Dòng dõi Ít-ra-en tất cả,
nào một dạ khiếp oai!

Tiec ly-Icon

Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ – Tranh i-côn 

Khi nghe nói đến một bức tranh i-côn, điều nảy sinh trong trí tưởng tượng của chúng ta là một bức ảnh thánh vàng lung linh, đẹp và linh thiêng. Trong văn hóa hiện đại, tranh i-côn không phải là một khái niệm xa lạ. Thật vậy, những gì chúng ta thấy hôm nay là một sự quan tâm lớn đối với tranh i-côn: chúng thường được treo trên tường nhà, trưng bày trong các bộ sưu tập nghệ thuật và được bán với giá khá cao trong các cửa hàng đồ cổ. Thật là một điều tốt khi tranh i-côn trở nên gần gũi với chúng ta, để ta thân quen với chúng và chúng sẽ dần dần gợi lên sự quan tâm của chúng ta; chúng sẽ không bị hủy hoại nữa như đã từng bị đối xử trước đây, khi người ta coi tranh i-côn là những biểu tượng của “đức tin ngoại bang”. Tuy nhiên, điều đó cần rất nhiều cố gắng để hiểu rõ hơn những gì mà tranh i-côn thực sự là và vai trò của chúng trong linh đạo của chúng ta.

Mặc dù tranh i-côn chắc chắn chạm đến các giác quan của chúng ta và hoạt động qua các giác quan ấy, nhiệm vụ chính của chúng không phải là để gây ấn tượng về thẩm mỹ, nhưng là để phô diễn cái đẹp và sự cao cả nơi chúng. Tranh i-côn muốn dẫn chúng ta ngang qua các cảm xúc để tiến đến thực tại cao hơn. Tranh i-côn mở ra trước mặt chúng ta một chiều kích khác của cuộc sống. Tranh i-côn là ảnh thánh, một chứng tá lòng tin của người vẽ ra nó và của cộng đoàn đức tin nơi nó được tạo ra. Đó là lý do tại sao tranh i-côn muốn hướng chúng ta đến thực tại của đức tin. Tranh i-côn được tạo ra để trợ giúp người tin trên hành trình thiêng liêng của họ, và đó là lý do tại sao không được mang tranh i-côn ra khỏi bối cảnh tôn giáo, ra khỏi khuôn khổ của phụng vụ và lòng đạo đức đích thực. Đó là lý do tại sao không thể tách rời tranh i-côn khỏi việc thờ phượng Kitô giáo.

Nếu được trưng bày trong viện bảo tàng chỉ với mục đích để nhìn ngắm như một tác phẩm nghệ thuật, thì chắc chắn tranh i-côn sẽ bị bần cùng hóa; nó mất đi giá trị đích thực. Nếu điều đó xảy ra, tranh i-côn sẽ không còn thực hiện được chức năng căn bản của nó. Nó không thể mở được Nước Thiên đàng trước mặt chúng ta, hoặc đưa Vương quốc ấy đến gần chúng ta hơn, nên sẽ có khó khăn nhất định trong việc giao tiếp với các tranh i-côn. Nếu chúng ta chỉ nhìn tranh i-côn như những công trình nghệ thuật, thì đối với chúng ta nó chỉ là “hình phẳng”, cũng như các tranh ảnh bình thường khác. Vì chúng không được tạo ra với mục đích làm thỏa mãn các giác quan, nên chúng ta sẽ thấy chúng “khó tiếp nhận”.

Tranh i-côn dẫn chúng ta đến thực tại đức tin. Khi nó trở thành đối tượng cầu nguyện đối với chúng ta, khi chúng ta bắt đầu đi vào liên hệ thiêng liêng với các Thánh mà bức ảnh thể hiện, khi chúng ta bắt đầu cảm nhận được sự an ủi của bức ảnh đối với đức tin chúng ta, khi chúng ta bắt đầu đọc được ý nghĩa biểu tượng của bức i-côn và sứ điệp linh hứng của nó với niềm tin và lòng đạo đức, thì bức ảnh sẽ đi đến chiều kích mới đối với chúng ta. Trong khi liên hệ với đức tin chúng ta, tranh i-côn sẽ bắt đầu sống cuộc sống thật của nó, nó sẽ trở thành đối tượng của lòng tôn kính thiêng liêng của chúng ta và mạc khải trọn vẹn cái đẹp nơi nó.

Con người cần học biết cách sống cuộc đời mình qua tính đơn sơ của tranh i-côn, làm sao để tránh chỉ tìm kiếm những đam mê ấn tượng trong tranh, hay tìm kiếm niềm vui làm cho chúng ta dừng lại “ở bề mặt” nhưng mau nhàm chán, để lại phía sau sự vô vị và trống rỗng. Sự an ủi mà tranh i-côn mang lại không phải là cảm xúc hay sự phấn khích của chúng ta, nhưng phát xuất từ nơi sâu thẳm bên trong ta, từ nơi thánh thiêng mà con người gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống cách đích thực. Khi đức tin của chúng ta tiếp xúc với tranh i-côn, mầu nhiệm của Thiên Chúa sẽ mở ra trước mắt chúng ta.

Chắc chắn cách tiếp cận này với các tranh i-côn sẽ không thể diễn ra nếu không có ơn Chúa, vì thế con người cần phải nhiệt thành và khiêm tốn cầu xin trước linh ảnh. Không có ơn Chúa, chúng ta không thể khám phá hết “chiều sâu đức tin” khi chiêm ngắm các ảnh thánh; không có ơn Chúa, chúng ta không thể công bố danh Chúa Giêsu được… (x. 1Cr 12,3: không ai có thể nói rằng “Ðức Giêsu là Chúa”, nếu người ấy không ở trong Thần Khí). Vì thế, mỗi khi chiêm ngắm tranh i-côn việc cầu nguyện cách khiêm nhường phải đi trước để tăng cường nơi chúng ta ý thức về sự giới hạn của khát vọng và niềm tín thác của chúng ta vào quyền năng và lòng nhân từ của Thiên Chúa.

Sự thân mật gần gũi của chúng ta với các thánh trong tranh i-côn chắc chắn cũng là việc của công trình nội tâm, là một kiểu nghệ thuật hay như các bậc thầy về tâm linh nói, là sự khổ chế. Chiêm niệm với tranh i-côn đương nhiên đòi hỏi sự khổ chế, tức là một quá trình nỗ lực và thao luyện nội tâm. Chắc chắn, một điều cũng cần phải có nữa là sự kiên nhẫn cần thiết để làm cho từ chỗ chỉ đơn thuần là một niềm vui hay xúc động trước cái đẹp đi đến chỗ chạm đến các cung bậc của tâm hồn chúng ta và nếm hưởng được hương vị ngọt ngào đích thực và chân thật.

Học hỏi từ những kinh nghiệm của mình, con người cần phải gia tăng cảm thức thiêng liêng, cho phép họ phân biệt cái gì là sâu sắc thật với cái gì chỉ mang lại sự thỏa mãn thoáng qua.

Vì thế, một cuộc gặp gỡ tranh i-côn đòi hỏi thời gian và sự kiên trì, ngay cả khi chiều kích nhất thời, tạm bợ thường biến mất trong đời sống thiêng liêng cách nào đó. Chắc chắn, việc kết hợp với tranh i-côn là một quá trình không khoan nhượng với bất cứ sự hối thúc nào, ít ra là về phía chúng ta. Đây là con đường mà bất cứ sự đi tắt nào cũng sẽ làm lỡ cơ hội đến đích, là con đường khích lệ sự thường xuyên và bình an. Có lẽ thích hợp nhất phải nói đến sự tập trung nội tâm, không phải luôn là sự điềm tĩnh bình thường, tuy đôi khi có thể là như vậy, ngay cả trong những khoảnh khắc khó khăn của những căng thẳng về cảm xúc. Đó là sự tập trung nội tâm ở cấp độ đức tin, là nơi đầu tiên đón nhận quà tặng từ Thiên Chúa, mà theo thời gian và một phần nhờ vào những nỗ lực của ta, giúp ta quay về với sự bình an thẳm sâu.

Những bức tranh i-côn chiêm niệm đó cũng nói về sự khổ chế của con mắt chúng ta, về việc tránh nhìn ngắm những hình ảnh chỉ quyến rũ chúng ta bằng sự dịu ngọt hời hợt, không có gì đẹp đẽ và không dẫn chúng ta đến sự thiện. Những ai đã gầy dựng dù chỉ là một tiến trình nhỏ cùng với cách hiệp thông thiêng liêng với ảnh thánh thì sẽ biết khuyến nghị này đúng đắn thế nào.

Do đó, tranh i-côn là ảnh thánh và chỉ trong các thuật ngữ này, người ta mới có thể hiểu đúng được chúng. Những ảnh thánh ấy được vẽ trên các tấm panel, sử dụng kỹ thuật tương ứng, được lưu truyền bởi truyền thống hàng thế kỷ trước. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất hệ tại ở chỗ các tranh i-côn là hoa trái của việc cầu nguyện, bởi vì các họa sĩ tạo ra chúng trong bầu khí sám hối và chiêm niệm sâu xa. Phần lớn các vị ấy là những họa sĩ vô danh: các tu sĩ, các đan sĩ, các thánh. Điều này có nghĩa rằng các họa sĩ vẽ tranh i-côn trước hết phải chiêm niệm về mầu nhiệm của Thiên Chúa dựa trên những điều căn bản của Thánh Kinh, rồi sau đó diễn tả nội dung chiêm niệm của họ ra qua hình ảnh và màu sắc. Những điều nảy sinh từ cái nhìn thiêng liêng của họ trong quá trình chiêm niệm sẽ được diễn đạt bằng cọ qua bức ảnh họ thực hiện.

Họ đã vẽ tranh i-côn theo các tiêu chuẩn về kỹ thuật miêu tả, hội họa và thần học rất nghiêm ngặt để diễn tả chính xác chân lý đức tin. Nếu như Kinh Thánh mạc khải sự thật của Thiên Chúa bằng dấu chỉ là lời thì các họa sĩ vẽ tranh i-côn đã chuyên chở chân lý đức tin bằng dấu chỉ khác, đó là tranh ảnh. Họ trình bày Phúc Âm không phải bằng chữ viết nhưng bằng cọ vẽ. Đó là lý do tại sao trong Giáo hội Đông phương, người ta thường nói “viết tranh i-côn” chứ không nói “vẽ tranh i-côn”, và người thực hiện tranh i-côn là cá nhân nào đó nhận được ơn gọi đặc biệt từ Thiên Chúa và nhận được sự chúc lành từ Hội thánh, vì chính Hội thánh mời gọi họ vẽ bức tranh ấy.

Resurrection-Icon

Chúa Giêsu sống lại – Tranh i-côn

Tuy nhiên, bất chấp những sự tương tự nhau, chúng ta không nên nhầm lẫn giữa việc vẽ tranh i-côn với các tranh “Kinh Thánh bằng hình” (Biblia pauperum) trong Giáo hội Tây phương, đặc biệt vào thời Trung Cổ. Nghĩa là phong trào vẽ trên tường Nhà thờ những cảnh trong Phúc Âm để cho chân lý đức tin dễ đến với những tín hữu không biết đọc. Tranh i-côn không phải là một bức tranh mô phỏng các sự việc trong Kinh Thánh, cũng không phải là sự gợi nhớ thông thường về các chân lý phúc âm, nhưng đúng hơn là sự biểu lộ thiêng liêng qua những nhân vật mà tranh i-côn mô tả.

Chữ “i-côn” có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng Hy Lạp eikün, nghĩa là “tranh, ảnh”. Tranh i-côn không thể thoát ra được khỏi truyền thống của các Hội thánh Đông phương và thể hiện kế hoạch cứu độ mà các Giáo phụ của Hội Thánh diễn đạt trong một tư tưởng sâu xa: Thiên Chúa trở nên con người để con người có thể trở thành Thiên Chúa, để nhân loại có thể dự phần vào sự viên mãn của thần tính Thiên Chúa, là sự sống đời đời. Đó là lý do tại sao tranh i-côn, đặc biệt là tranh về Đức Kitô hay về Mẹ Thiên Chúa, là dấu chứng sự nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa nơi Đức Kitô và sự thần hóa của nhân loại nơi Người. Tranh i-côn đặc biệt hơn các tranh miêu tả bình thường hay tranh lưu niệm về những sự kiện hay con người của quá khứ. Tranh i-côn hiện tại hóa điều nó miêu tả; nó là điểm gặp gỡ giữa mầu nhiệm Thiên Chúa và thực tại con người. Vì thế, tranh i-côn không phải là vật trang trí bình thường trên cung thánh. Nó là chính cung thánh. Điều này giải thích tại sao trong phụng vụ của Giáo hội Đông phương tranh i-côn được đặt cùng một bên của nhà thờ như sách lời Chúa.

Đôi khi các tín hữu thắc mắc về vấn nạn mà anh em Tin Lành Chứng nhân Giêhôva chỉ trích mạnh mẽ rằng: Kitô hữu chúng ta có được phép thờ ảnh tượng hay không? Vì trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã nghiêm cấm ông Môsê và dân tuyển chọn của Chúa tạc ảnh tượng Thiên Chúa và thờ lạy các ảnh tượng ấy. Nếu chúng ta hiểu rõ chính mình một chút, với mầu nhiệm của tranh i-côn, chúng ta có thể trả lời khẳng định về vấn đề này, bởi vì tranh i-côn diễn tả đúng đắn sự thật về sự nhập thể của Thiên Chúa. Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy bản tính nhân loại, Ngôi Lời nhập thể, đã trở nên không chỉ là Lời của chúng ta mà còn là khuôn mặt, một khuôn mặt cụ thể của Đức Giêsu Nadarét. Và đó là lý do tại sao Kitô hữu chúng ta có thể miêu tả và vẽ Thiên Chúa, vì ngay chính khoảnh khắc nhập thể, đến trong thế gian, Người đã trở thành vị Thiên Chúa hữu hình, Thiên Chúa với khuôn mặt nhân loại, đúng hơn nữa là khuôn mặt nhân loại của Thiên Chúa. Trong Ngôi Hai Thiên Chúa là Đức Giêsu Nadarét, con người có thể đụng chạm được Thiên Chúa, nhìn thấy Người bằng mắt thịt phàm nhân và vì thế có thể vẽ Người.

Chúng ta hãy lặp lại lần nữa theo thánh Phaolô rằng Đức Kitô là hình ảnh (tranh i-côn) của Thiên Chúa vô hình. Đức Kitô là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình. Đó chính là lý do tại sao các tranh i-côn thể hiện trước tiên các chân lý đức tin của chúng ta, chứ không phải dấu ấn của họa sĩ, thợ vẽ. Chúng ta không tôn kính các tranh ảnh thánh như thể chúng ta tin rằng chúng là chính Thiên Chúa. Chúng ta tôn kính tranh ảnh thánh vì chúng dẫn chúng ta đến Thiên Chúa. Cho dù là thiêng liêng nhưng Thiên Chúa thực sự hiện diện nơi ảnh thánh. Thánh Gioan Damascus giải thích ý tưởng này như sau: “Tôi không tôn thờ vật chất, tôi tôn thờ Thiên Chúa của vật chất, Đấng đã trở nên vật chất vì tôi và chiếu cố đến đời sống vật chất, Đấng mang lại cho tôi ơn cứu độ qua vật chất.

Con người cần thấu tỏ mầu nhiệm của tranh i-côn; con người cần hiểu biết rõ hơn về tranh i-côn, để tranh i-côn có thể giúp chúng ta phát triển linh đạo, tương quan cá nhân với Chúa và làm cho nó nên xinh đẹp và sinh hoa kết trái. Linh mục người Ý Fiorenzo Mastroianni có lần đã viết đoạn suy niệm ngắn về vai trò của Thánh Kinh trong việc kết nối với Thiên Chúa, một suy niệm mà chúng ta có thể áp dụng hiệu quả cho tranh i-côn: “Con người không thể yêu mến cái nó không biết. Tình yêu được sinh ra trong nhận thức và dẫn tới một nhận thức sâu sắc hơn. Để được con người yêu mến, Thiên Chúa ‘xuất hiện’. Thiên Chúa gửi cho con người một bức “thư tình” là Kinh Thánh. Thiên Chúa nói với chúng ta và mạc khải chính Người trong thiên nhiên. Thiên Chúa cư ngụ trong mỗi con người. Nhưng ai đó phải dạy chúng ta cách đọc và khám phá ra Thiên Chúa. Nếu muốn ‘mô tả’ Thiên Chúa, thì thế giới này không đủ giấy để chứa. Nếu muốn ‘nói về’ Thiên Chúa, muôn đời cũng không đủ. Nhưng thinh lặng cũng là một cách nói về Chúa. Thiên Chúa cũng được gồm tóm trong một từ độc nhất: ‘Yêu’

Ngày nay con người ngồi trước máy vi tính, mở cửa sổ các chương trình để tranh thủ truy cập vào thế giới ảo và nhân tạo, một thế giới đầy hình ảnh do con người tạo ra theo hình ảnh và sở thích của mình. Đối với các tín hữu chúng ta, tranh i-côn là cửa sổ mở ra cõi đời đời, nhờ đó chúng ta truy cập vào thế giới thực, thế giới biến hình, và Thiên đàng, nơi gần gũi và dễ tiếp cận nhờ cửa sổ này. Cùng lúc ấy, nhờ cửa sổ của tranh i-côn, Thiên đàng thâm nhập vào thực tại dưới đất của chúng ta. Thiên đàng trở nên hiện tại trên trái đất này. Ơn cứu độ, điều mà chúng ta khát khao hướng đến, trở nên hữu hình trong mắt, trong tim và trong linh hồn chúng ta. Ơn cứu độ trở nên thực sự hơn nữa đối với chúng ta, luôn hiện diện và củng cố đức tin cho chúng ta, làm sống động niềm hy vọng của chúng ta và hun nóng tình yêu của chúng ta. Trong tranh i-côn, chúng ta gặp gỡ Đức Kitô và các thánh, tuy thiêng liêng nhưng đích thực. Chúng ta gặp các ngài trong đức tin, nhưng chắc chắn.

Marek Kotynski, C.Ss.R

Chuyển ngữ: Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, C.Ss.R