Suy niệm 7: ÁO CỦA CHÚA KITÔ

Đăng ngày

LỜI GIẢI THÍCH

Kính thưa quý độc giả của GNsP,

Trong loạt bài suy niệm về Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp vừa qua, chúng tôi bị chậm trễ một kỳ do bản cứng bị thiếu hai trang trong bài Suy niệm 6. Vì mỗi bài riêng biệt không có mối liên hệ với nhau nhiều nên chúng tôi quyết định đăng bài Suy niệm 7. Chúng tôi cố gắng tìm nội dung hai trang bị thiếu để phục vụ quý vị trong thời gian sớm nhất.

Mong được sự thông cảm.

——————-

GNsP (07.05.2016) – Các đoạn Kinh Thánh gợi ý suy niệm

Is 9,1-3.5-6

1 Dân đang lần bước giữa tối tăm

đã thấy một ánh sáng huy hoàng;

đám người sống trong vùng bóng tối,

nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

2 Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ,

đã tăng thêm nỗi vui mừng.

Họ mừng vui trước nhan Ngài

như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,

như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.

3 Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ,

và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy

như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an.

5 Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta,

một người con đã được ban tặng cho ta.

Người gánh vác quyền bính trên vai,

danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh,

người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình.

6 Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận

cho ngai vàng và vương quốc của vua Ða-vít.

Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền

trên nền tảng chính trực công minh,

từ nay cho đến mãi muôn đời.

Vì yêu thương nồng nhiệt,

Ðức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó.

Tv 96, 1-3.10-13

(1) Hát lên mừng CHÚA một bài ca mới,
hát lên mừng CHÚA, hỡi toàn thể địa cầu!

 (2) Hát lên mừng CHÚA, chúc tụng Thánh Danh!
Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ,

 (3) kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,
cho mọi nước hay những kỳ công của Người.

 (10) Hãy nói với chư dân : CHÚA là Vua hiển trị,
Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay,
Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.

 (11) Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng,
biển gầm vang cùng muôn hải vật,

 (12) ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ.
Hỡi cây cối rừng xanh,

 (13) hãy reo mừng trước tôn nhan CHÚA,
vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian.
Người xét xử địa cầu theo đường công chính,
xét xử muôn dân theo chân lý của Người. 

Linh ảnh là tranh i-côn về Phúc Âm. Nhờ hình dáng và màu sắc, các nhân vật và biểu tượng, thực tại của Phúc Âm có thể chạm đến các giác quan, lý trí và cuối cùng là con tim chúng ta, nơi sâu thẳm của tình cảm chúng ta, nơi Thiên Chúa đến gặp gỡ con người và để cho con người có thể thấy được Người bằng đức tin. Vì thế, linh ảnh không thể tách rời khỏi Lời Chúa, không có lời Chúa chúng ta không thể hiểu được linh ảnh để đi vào chiều sâu thực sự của linh ảnh. Kinh Thánh và linh ảnh luôn liên kết mật thiết với nhau, như trường hợp của cuộc đời họa sĩ vẽ linh ảnh, người đã kinh nghiệm trong Chúa Thánh Thần về sức mạnh của Ngôi Lời nhập thể tự mạc khải ra, đã chiêm niệm trong tâm hồn và diễn tả ra bằng màu sắc và hình dáng trong ảnh thánh.

Để đi vào thế giới của linh ảnh, để bắt đầu hiểu và chiêm ngắm linh ảnh cách sốt sắng, chúng ta cần đọc và suy niệm Kinh Thánh. Dưới ánh sáng của Lời Chúa, linh ảnh được mở ra trước mặt người tin và tỏa lan ánh sáng siêu nhiên. Nó bày tỏ những gì chúng ta đọc trong các trang Thánh Kinh, nó cho phép chúng ta quan sát các thực tại mà lời Chúa nói tới. Linh ảnh và Kinh Thánh bổ trợ nhau để tạ ơn quyền năng Chúa Thánh Thần hoạt động nơi ấy. Đó chính là Thần Khí đã làm cho chân lý mạc khải đến được với tâm hồn chúng ta; Thiên Chúa ở trong chúng ta: “Chính Thiên Chúa tác động đến ý chí cũng như hành động của anh em do lòng yêu thương của Người.” (Pl 2,13). Cuối cùng, đó chính là Thần Khí làm cho chúng ta được gặp gỡ các thánh trên linh ảnh đang sống trong vinh quang. Nhờ Thần Khí mà hình dạng và màu sắc của linh ảnh tác động đến chúng ta và trở nên nguồn ánh sáng chiếu soi vào sự sống vĩnh cửu.

20160507_aochuaÁo của Chúa Hài Đồng trong linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp có ý nghĩa sâu xa, dựa trên những ý nghĩa gốc gác lâu đời và trên chân lý của Thánh Kinh, chiếu giãi một ánh sáng mới và tối hậu trên những ý nghĩa này. Trong linh ảnh ta thấy Chúa Kitô mặc chiếc áo màu xanh lá cây với thắt lưng màu đỏ quấn ngang hông và một áo vàng-nâu bên ngoài. Ý nghĩa màu sắc của quần áo này như thế nào?

Xanh lá cây là màu bổ túc cho màu đỏ, cũng như nước bổ túc cho lửa vậy. Màu xanh lá là biểu tượng của đời sống thực vật, của mùa xuân và cũng thích hợp với sự đổi mới. Màu xanh lá có liên hệ sâu xa với sự sống và vì thế với vẻ đẹp của sự sống mới, tuổi trẻ và sức khỏe. Giữa màu vàng (ấm) và xanh dương (lạnh), màu xanh lá tượng trưng cho sự cân bằng hoàn hảo, như thể pha trộn từ hai màu xanh dương và vàng vậy. Đó là lý do tại sao màu xanh lá tượng trưng cho bình an, tức vắng bóng sự vận động. Đó là biểu tượng của sự hồi sinh thiêng liêng và là lý do tại sao chúng ta thường gặp màu xanh lá trên áo của các ngôn sứ và thánh sử Gioan, sứ giả của Chúa Thánh Thần.

Áo của Chúa Kitô màu xanh lá, như màu ngọc lục bảo, tượng trưng cho chi tộc Giuđa, chi tộc của Đức Maria và Đức Giêsu, biểu tượng cho sự sống của Thiên Chúa: “Ngài quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng.” (Tv 36,10). Đó chính là sự sống đời đời mà Chúa Kitô ban cho chúng ta, điều mà thánh Gioan đã nói trong phần dẫn nhập Tin Mừng của ngài: “Ðiều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.” (Ga 1,4-5). Đức Kitô là Lời Vĩnh Cửu đã mang đến sự sống mới và hơn nữa Người chính là Sự Sống. Sự Sống ấy trở nên sự sống của con người vào chính khoảnh khắc Ngôi Lời nhập thể: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” (Ga 1,14).

Mặt khác, màu nâu là màu của mặt trời, màu của đất sét. Đó là sản phẩm của hỗn hợp các màu đỏ, xanh dương, xanh lá và đen trộn lẫn với nhau. Nó gợi nhớ đến lá rụng, mùa thu và trái cây rơi xuống trên đất đen. Màu nâu sinh ra từ sự suy giảm của các màu tinh tuyền; vì thế, màu nâu không biểu tượng cho sự rạng rỡ hay năng động. Trong các linh ảnh thường thấy tràn ngập màu nâu, kể cả linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp, vì nó làm cho một bức ảnh thế tục được biến đổi trong việc cử hành lễ Vượt Qua. Màu nâu còn tượng trưng cho sự nghèo khó và khiêm nhường. Đối với các đan sĩ Đông phương, màu nâu có ý nghĩa là cái chết chậm và nhờ ơn Chúa họ được biến đổi trở thành người trao ban sự sống.

Như được nhấn mạnh bởi màu nâu của áo, Ngôi Lời đã trở nên người phàm, một trẻ thơ, Con của Đức Maria. Người chia sẻ với chúng ta thân xác phàm nhân, sự hủy diệt và gánh chịu những hậu quả của tội, bản tính nhân loại và lịch sử con người. Màu nâu nhấn mạnh thái độ phi thường của việc khiêm tốn và giản dị, một thái độ vô cùng nghèo khó: “…anh em biết Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.” (2 Cr 8,9).

Đai nịt trong trang phục của một chiến binh và dây lưng trên áo choàng đóng một vai trò quan trọng, có chức năng giữ chặt mọi thứ với nhau, buộc áo choàng vào trang phục và giữ cho nó có thứ tự, giúp cho người mặc chu toàn nhiệm vụ hàng ngày. Vì thế, chiếc đai màu đỏ trên áo choàng của Chúa Hài Đồng nhấn mạnh rằng việc nhập thể xảy ra là vì tình yêu cũng như việc đổ máu ra trên thập giá là vì ơn cứu độ của con người. Đó là biểu tượng cho sự tử đạo của tình yêu, cho sự hy sinh đời sống con người làm thành quà tặng đời sống mới. Sự kết hợp giữa màu xanh lá và màu nâu tượng trưng cho thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu. Thiên Chúa làm người vì yêu, một tình yêu lớn lao nhất, tình yêu đã khiến Người hy sinh trên thập giá: “Không ai có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu.” (Ga 15,13).

Nếu nhìn kỹ bức Linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp, chúng ta sẽ thấy áo Đức Mẹ cũng màu xanh lá cây. Đây là màu của lớp áo trong và lớp vải dưới khăn trùm đầu của Mẹ. Điều đó muốn nói với chúng ta rằng đức tin và sứ mạng của Mẹ Thiên Chúa phát xuất từ sự sống của Thiên Chúa đã nên xác phàm nơi cung lòng Mẹ. Phẩm giá lớn lao của Mẹ mà hai màu xanh và đỏ là biểu tượng được rút ra từ sự mở lòng ra của Mẹ đối với quyền năng của Thiên Chúa, đó là hoa quả của ân sủng Thiên Chúa, là nền tảng toàn bộ cuộc sống của Mẹ.

Đồng thời, thật đáng giá khi nhìn vào khuôn mặt của Chúa Hài Nhi ngồi trên cánh tay của Mẹ Người. Thật ra, đây không phải là khuôn mặt của một trẻ em, mà của một người trưởng thành. Vầng trán cao của Người là biểu tượng của sự khôn ngoan và trưởng thành. Sự thật về Đức Kitô là Thiên Chúa Hằng Sống được diễn tả ở đây. Theo các chuyên gia thì họa sĩ muốn diễn tả giai đoạn trọng tâm của cuộc đời Chúa Giêsu, là lúc Người đã ý thức đầy đủ sứ mạng của mình. Nhờ sự loan báo của các thiên thần, sứ giả của Thiên Chúa, mà Thánh ý của Chúa Cha được mạc khải cho Người. Các sứ giả của Thiên Chúa chỉ cho Chúa Giêsu thấy hành trình sứ mạng của Người, giới thiệu những dụng cụ trong cuộc Thương khó của Người. Các thiên thần làm việc ấy một cách trân trọng và nhân từ, với lòng chạnh thương sâu sắc. Chúa Giêsu bị ảnh hưởng bởi viễn cảnh cuộc Thương khó, một biến cố làm nổi bật đỉnh điểm của ơn cứu độ. Tuy nhiên, các dụng cụ của cuộc thương khó này là những biểu tượng của chiến thắng và vinh quang chứ không phải của sự bách hại, vì chính qua đó mà ơn cứu độ nhân loại được thành tựu: chiến thắng của sự sống trên cái chết.

20160507_chuagiesuĐức Giêsu tỏ ra sợ hãi cuộc Thương Khó, nhưng vẫn chấp nhận kế hoạch của Chúa Cha và tìm kiếm sự trợ giúp trong cánh tay của Mẹ Ngọt ngào. Tay Người nắm chặt tay Đức Trinh Nữ. Cổ của Chúa Giêsu hơi phồng lên (cũng như của Đức Maria), biểu tượng của hơi thở, nói với chúng ta về sự đầy tràn Thánh Thần, nơi Đấng ấy ơn cứu độ nhân loại được bày tỏ ra.

Đôi mắt của Đức Kitô không nhìn vào Đức Maria; không chờ đợi sự bổ sức của Đức Trinh Nữ Trung thành, nhưng lại nhìn về chốn xa xăm, vào khoảng không, hướng về Cha trên Trời, nơi xuất phát sứ điệp. Vì thế, Đức Giêsu quả quyết sự sẵn sàng của Người chấp nhận ý của Chúa Cha: “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.” (Dt 10,9). Trong Linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp, hai chân của Chúa Giêsu đan chéo nhau thành hình chữ thập, như thể sự hoán chuyển, khiến cho một chiếc dép của Người gần như tuột ra khỏi chân. Khá nhiều lối giả thiết trong lịch sử nhằm giải thích về chiếc dép treo lơ lửng này. Trong chú giải của các nhà thừa sai, những vị giải thích Linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp theo tư tưởng Tây phương, thì điều dễ nhìn thấy nhất là dấu hiệu sợ hãi của Đức Giêsu, đang tìm nương ẩn dưới cánh tay Mẹ với nét mặt lo lắng vì viễn cảnh cuộc Thương Khó mà các thiên thần loan báo. Vì thế, đỉnh điểm của ơn cứu độ diễn ra trên thập giá được nhấn mạnh. Kiểu giải thích như thế đã khơi lên sự cảm thông và yêu mến đối với Đức Kitô và mang lại an ủi cho người đau khổ, những người thấy những tình cảnh khó khăn và đau khổ của họ được phản chiếu nơi sự sợ hãi của Đức Giêsu. Thế nên, Đức Kitô đã chia sẻ những cuộc chiến đấu nhân loại này “trong lũng đầy nước mắt”.

Vì tính chất độc nhất của tranh i-côn nhằm diễn tả sự thật về Mạc khải qua tranh ảnh, bắt đầu được đánh giá cao trong Giáo hội Tây phương, việc mở ra với những lối giải thích mới đã xuất hiện. Một số cho rằng chiếc dép rơi như sự hoàn tất lời loan báo tiên khởi (St 3,15: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.“), nói về việc dòng dõi người nữ sẽ đạp đầu con rắn-Satan, còn con rắn sẽ quay lại cắn gót chân Đấng Cứu Thế. Thật ra, trong Linh ảnh, chân của Đức Kitô đặt ở vị trí hơi thiếu tự nhiên và chiếc dép sắp rơi cho thấy điều đó. Điều này cho thấy họa sĩ cố tình muốn lôi kéo sự chú ý vào chi tiết này nhằm chuyển tải một sứ điệp thiêng liêng: Đức Kitô chính là Đấng Cứu Độ, Đấng Mêsia đã được loan báo trong Cựu Ước. Nhờ sự tự hiến Người đã hủy diệt tội lỗi (nghiền nát đầu Satan), và phục hồi tự do cho con người.

Trong ánh sáng của sự giải thích này, Đức Thánh Trinh Nữ cũng có thể được nhìn theo một khía cạnh mới: như Eva mới, thì con của người nữ này, theo Cựu Ước loan báo, sẽ đánh bại Satan. Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế, Đấng qua việc hy sinh chính đời sống mình, qua cuộc Thương Khó trên thập giá sẽ tiêu diệt kẻ thù muôn kiếp của con người là Satan. Vì thế, con của Mẹ là Đức Giêsu Kitô là Ađam mới, Đấng qua việc đánh bại tội lỗi cũng đánh bại luôn sự chết, vì “cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính (Đức Kitô), mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống.” (Rm 5,18).

Có một cách giải thích khác, dựa trên truyền thống cổ xưa và tục lệ phương Tây, xem cử chỉ của Chúa Kitô như ám chỉ đến nghi lễ ký kết hợp đồng của một hiệp ước giữa hai bên. Ngày nay, một bản hợp đồng như thế này được ký bằng viết và văn bản được trao cho cả hai phía. Vào thời Trung cổ, chiếc dép phải bị hoán đổi vị trí là dấu chỉ của một giao ước được ký kết. Do đó, tư thế của Chúa Giêsu là sự xác nhận rằng Giao Ước Mới đã được ký kết giữa Thiên Chúa và con người trong ngôi vị Đức Kitô. Chúa Giêsu chấp nhận ý định cứu độ của Chúa Cha và từ bỏ chiếc dép phải của Người như một sự xác nhận: một biểu tượng của sự hy sinh đã được thực hiện nơi tâm hồn Người và trên đồi Canvê, với sự tham dự của Mẹ Người. Lời của Đức Maria trong biến cố Truyền tin “xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38) đã trở thành hiện thực trên đồi Gôngôtha qua câu nói “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19,30) mà Đức Giêsu đã mang lấy tội lỗi chúng ta nơi chính Người và chỉ cho chúng ta cách thích hợp (chân phải) về các điều răn của Người. Chi tiết chiếc dép không rơi xuống đất có thể muốn ám chỉ lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng cứu giúp các tội nhân, đang chờ đợi họ trở về.

Sau cùng, chiếc dép sắp rơi có lẽ được đồng hóa với sự hạ mình (tiếng Hy Lạp là kathabasis) của Đức Kitô, biểu lộ nơi chính mầu nhiệm Nhập thể của Người vì ơn cứu độ của tất cả chúng ta và đạt đến đỉnh điểm nơi cuộc Thương khó và cái chêt của Người trên thập giá. “Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2,6-7). Vì thế, chiếc dép có ý nghĩa là sự hy sinh của Đức Kitô, sự bỏ mình vì tình yêu dành cho con người.

Marek Kotynski, C.Ss.R

Chuyển ngữ: Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, C.Ss.R