Nhà-đất-rừng Đan viện Thiên An dưới góc độ pháp lý

Đăng ngày

GNsP (28.06.2016) – Nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên Huế luôn dùng mọi thủ đoạn xâm phạm Hiến pháp, pháp luật, quyền tư hữu… để “cướp, chiếm” nhà-đất-rừng thông của Đan viện Thiên An một cách công khai dưới sự “bảo kê” của các cán bộ quan liêu.

02

Điển hình của sự “cướp trắng trợn” nhà-đất-rừng thông của Đan viện Thiên An chính là Quyết định số 577/QĐ-XKT của Tổng Thanh tra Nhà nước ra ngày 06.06.2002, do ông Trần Quốc Trượng – Phó tổng Thanh tra Nhà nước Thường trực ký, với nội dung gọi là “giải quyết khiếu nại của Đan viện Thiên An” (“Quyết định số 577/QĐ-XKT”).

Về hình thức, Quyết định 577/QĐ-XKT không đúng thẩm quyền, bởi vì quyết định này được xem là “quyết định giải quyết lần đầu”, trong khi đó theo quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại – Tố cáo năm 1998, Điều 16 Nghị định 67/1999/NĐ-CP của Chính phủ thì Thủ tướng Chính phủ chỉ có thẩm quyền “giải quyết khiếu nại cuối cùng”. Điều chú ý là trong quyết định này không có nội dung “đây là giải quyết khiếu nại cuối cùng”.

Hợp thức hóa “lấn chiếm” đất Đan viện Thiên An cách tinh vi

Nội dung của Quyết định 577/QĐ-XKT cho thấy không phù hợp pháp luật, thiếu khách quan, áp đặt, không chính xác… Cụ thể:

Để phản bác nội dung Đan Viện Thiên An khẳng định có quyền sở hữu 107.6796 ha đất, Quyết định 577/QĐ-XKT chỉ thừa nhận: Hồ sơ giấy tờ “Đan viện Thiên An chỉ thể hiện có 72,3541 ha (37.012 m2 + 686.529 m2), còn 35,3255 ha không có căn cứ pháp lý để chứng minh là diện tích đất mà Đan viện Thiên An đã từng quản lý, sử dụng.”  Tuy nhiên, ngay sau đó, Quyết định 577/QĐ-XKT lại khẳng định: “…trong diện tích đất Đan viện Thiên An thực tế hiện nay đã và đang sử dụng không có tranh chấp là 99.201 m2…”. Như vậy, giả thiết, nhà nước chỉ “thừa nhận” Đan viện Thiên An “thể hiện” có 72,3541 ha đất (chứ không phải 107.6796 ha), nhưng xác định, nay Đan viện đã và đang sử dụng chỉ còn có 99.201 m2, mất đi 624.340 m2 đất, tức mất khoảng 70% đất (có giấy tờ). Vậy, 624.340 m2 đất này đã đi về đâu? “Ai” đã “lấn chiếm” các khu đất này? Mất hơn 624.340 m2 đất mà Quyết định này chỉ nhẹ nhàng “bác” yêu cầu là xong!

Tiếp đến, nhà cầm quyền xác nhận Đan viện Thiên An “đã và đang sử dụng không có tranh chấp là 99.201 m2”, nhưng phần Quyết định (trang 9) lại chỉ ghi nhận “diện tích đất Đan viện Thiên An đang sử dụng là 54.862 m2”, và “diện tích đất Đan viện Thiên An đang sử dụng là 24.690 m2 đất nằm trong quy hoạch trung tâm vui chơi giải trí đồi Thiên An – Hồ Thủy Tiên.” Vậy, đất của Đan viện Thiên An (24.690 m2) có phải là của Đan Viện không (vì xác định là không tranh chấp)? Sao lại “nằm trong qui hoạch…”? Và Trung tâm vui chơi giải trí này có quyền “tranh chấp” hay không ? Và sao lại “tạm giao”, trong khi “đất đã và đang sử dụng ổn định, không có tranh chấp” thì phải được công nhận QSD đất theo qui định Luật Đất đai. Quyết định 577/QĐ-XKT này quanh co, cố tình “trái pháp luật” là vì vậy.

Cướp ngôi trường Thánh Mẫu cách “công khai”

Về ngôi trường Thánh Mẫu 11 gian thuộc quyền quản lý và sở hữu của Đan viện Thiên An từ những năm 1940 với mục đích được xây dựng để phục vụ cho con em trong vùng đi học. Nhưng tại Quyết định 577/QĐ-XKT này cho rằng: “Ngày 19.01.1976 Trưởng Ty Nông lâm Huế có văn bản gửi Đan viện Thiên An, đề nghị Đan viện Thiên An “nhường” ngôi trường nói trên cho Ty Nông lâm sửa chữa lại để làm cơ sở sản xuất cho vườn ươm.” Tại quyết định này, nhà chức trách nhấn mạnh chữ “nhường” và để chữ in nghiêng trong ngoặc kép với thông điệp chỉ cần văn bản đề nghị “nhường” – bất chấp chủ sở hữu có đồng ý “nhường” hay không thì nhà cầm quyền vẫn cứ lấy, vẫn cứ chiếm quyền sở hữu. Hành vi này khác nào “cướp công khai”?

Không những vậy, nhà cầm quyền còn lấy lý do “25 năm Lâm trường Tiền Phong sử dụng chưa nhận được văn bản nào Đan viện đòi hay xin lại ngôi trường trên…” Đây là lối ngụy biện ngang ngược để bao che cho hành vi ăn “cướp” của nhà chức trách. Bởi lẽ, chủ sở hữu là Đan viện Thiên An đã bị “cướp” ngôi trường Thánh Mẫu, nay lại đòi hỏi các Đan sĩ phải có văn bản “xin lại” tài sản đã bị “cướp”?

Cần nhấn mạnh theo quy định tại khoản 7 Điều 176, Điều 195, khoản 1 Điều 255 BLDS năm 1995 và Điều 189 và Điều 247 BLDS năm 2005: “…người chiếm hữu ngay tình, không có căn cứ pháp luật, không biết là mình chiếm hữu của người khác…” thì phải sau 30 năm mới được công nhận “Quyền sở hữu”. Trong trường hợp của Đan viện Thiên An, nhà cầm quyền “cướp” có chủ đích mới được 25 năm và biết rõ là “cướp” tài sản của chủ nhà là Đan viện Thiên An nên không thể áp dụng Điều luật “không khiếu nại, xin lại” để tính toán “công nhận QSH tài sản theo thời hiệu” như quyết định 577/QĐ-XKT đã nêu.

Trái lại, pháp luật qua mọi thời kỳ đều khẳng định “bảo vệ quyền sở hữu” của các tổ chức, công dân; và xử lý kẻ ngang ngược, đòi chủ nhà “nhường” nhà, bất chấp chủ nhà có đồng ý hay không, cũng “cướp và chiếm” một cách công khai, sau đó lại còn lu loa rằng chủ nhà đã “nhường”, và “không nhận được văn bản xin lại” của chủ nhà, nên không trả?

Thậm chí, nhà chức trách đã sử dụng Ngôi trường Thánh Mẫu thuộc quyền quản lý và sở hữu của Đan viện Thiên An sai mục đích ban đầu của trường là “được xây dựng để phục vụ cho con em trong vùng đi học”, nhưng nhà cầm quyền đã sử dụng Ngôi trường Thánh Mẫu sau khi “cưỡng chiếm” để làm “cơ sở vườm ươm cây”. Mục đích ngôi trường Thánh Mẫu là “ươm trồng con người” bị kẻ cướp cưỡng chiếm dùng làm “ươm trồng cây cối”!

Rõ ràng, Quyết định 577/QĐ-XKT không hề giải quyết khiếu nại của Đan viện Thiên An mà còn tìm mọi cách “không thừa nhận” đòi Quyền sở hữu hợp pháp của Đan viện Thiên An.

Tùy tiện lấy đất của người đang sử dụng đem “giao” cho người khác sử dụng

Quyết định 577/QĐ-XKT này đề cập đến “diện tích đất do Lâm trường Tiền Phong quản lý” đã nêu: “Như vậy toàn bộ diện tích rừng thông đồi Thiên An và đất rừng sau giải phóng Nhà nước quản lý giao cho Lâm trường Tiền Phong quản lý, khai thác và sử dụng từ đó cho đến nay.” Tuy nhiên, lại  không nói rõ được đã quản lý vào thời điểm nào? Theo chính sách quản lý nào đối với toàn bộ diện tích đất rừng thông đồi Thiên An? Trong khi đó Quyết định 577/QĐ-XKT nêu ra: “Sau ngày Giải phóng năm 1975, Ủy ban nhân dân Cách mạng Thừa Thiên Huế đã có quyết định số 274/QĐ-UB ngày 20.02.1976 thành lập Lâm trường trồng rừng Tiền Phong…”. Và tại trang số 7 cũng nêu: “Năm 1976 Ủy ban nhân dân Cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, tình Bình Trị Thiên trước đây đã giao toàn bộ diện tích đất rừng thông đồi Thiên An cho Công ty kinh doanh lâm nghiệp, Lâm trường Tiền Phong quản lý, khai thác, sử dụng ổn định liên tục cho đến nay.” Thế thì Ủy ban nhân dân Cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, tình Bình Trị Thiên đã lấy đất ở đâu để giao cho Công ty kinh doanh lâm nghiệp, Lâm trường Tiền Phong? Nhà cầm quyền giao đất theo chính sách nào?

Toàn bộ các văn bản pháp luật Quyết định 577/QĐ-XKT trích dẫn không có khoản, điều nào quy định Nhà nước được quyền tùy tiện lấy đất của người đang sử dụng đem “giao” cho người khác sử dụng. Việc nhà cầm quyền quyết định “thu hồi” đất, rồi “giao” cho người khác phải có “căn cứ”, “trình tự thủ tục…”, chứ không phải chỉ bằng câu chữ “giao” là thành!

Cũng tại trang số 7 Quyết định 577/QĐ-XKT cũng khẳng định: “Đan viện Thiên An chưa được chính quyền tỉnh Bình Trị Thiên, tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức giao đất để sử dụng.” Cần lưu ý, pháp luật đất đai luôn luôn công nhận “giấy tờ do chế độ cũ cấp” và/ hoặc đang sử dụng đất là được công nhận, chứ không chỉ căn cứ vào “nhà nước giao đất”. Đan Viện Thiên An như Quyết định 577/QĐ-XKT thừa nhận theo các giấy tờ từ năm 1969, Đan Viện đã “thể hiện 72.3541 ha đất”, nhưng nhà nước này chỉ mới “giải phóng” năm 1975, thì làm sao đòi “giao đất” cho Đan Viện Thiên An?

Trong khi đó, Hiến pháp và pháp luật qua các thời kỳ đều khẳng định “tài sản Tôn giáo được pháp luật bảo hộ”.

Tòa án buộc giải quyết các khiếu nại của Đan viện Thiên An

Về “diện tích đất do Trường quân sự Tỉnh quản lý” ngay từ đầu đã thể hiện sự “lươn lẹo” khi cho rằng: “Sau ngày giải phóng, đơn vị bộ đội biên phòng đã tiếp quản một khu trạm xá, trường học, nhà bếp, giếng nước và 4 ao cá tổng cộng hơn 1 ha đất do Đan viện Thiên An tự nguyện hiến vĩnh viễn cho Mặt trận giải phóng Thừa Thiên Huế…” Như vậy, bộ đội đã “chiếm” (tiếp quản) trước hay Đan viện Thiên An đã “hiến” các khu trạm xá, trường học, nhà bếp, giếng nước và 4 ao cá này cho bộ đội? Đan viện Thiên An đã “hiến” cho Mặt trận thế thì tại sao Bộ đội lại “tiếp quản”? Bộ đội được “tiếp quản” (chiếm) của Đan viện hay được Mặt trận “giao” đất? Quyết định 577/QĐ-XKTđã cố tình “mập mờ” kể cả cố tình sử dụng cụm từ “diện tích đất” để đễ nhầm lẫn “thuộc sở hữu toàn dân, do NN quản lý”, trong khi đây là tài sản có “quyền sở hữu”. Bởi vì “một khu trạm xá, trường học, nhà bếp, giếng nước, ao cá…” thì không thể là “diện tích đất”!

Tại Quyết định 577/QĐ-XKT này cũng cho rằng, “Đan viện Thiên An tự nguyện hiến vĩnh viễn cho Mặt trận giải phóng Thừa Thiên Huế” sau ngày giải phóng “một khu trạm xá, trường học, nhà bếp, giếng nước và 4 ao cá”, gồm có “12 nhà, 5 giếng nước, 4 ao cá trên diện tích 46.950 m2”, nhưng nhà cầm quyền không hề trưng ra bằng chứng Đan viện Thiên An đã “tự nguyện hiến vĩnh viễn” các khu đất trên. Bằng chứng Đan viện Thiên An “tự nguyện” hiến ở đâu? Hiến trước hay sau khi bộ đội “tiếp quản”?

Về pháp lý, Quyết định số 434/TTg ngày 30.10.1976 của Phủ Thủ tướng quy định rất hạn chế các trường hợp được “hiến”. Tổ chức xin hiến phải “tự giác kê khai” và chỉ nhận hiến “cơ sở kinh doanh”. Đặc biệt chỉ có Bộ, Tổng Cục, UBND cấp tỉnh mới có quyền “xem xét, nhận hiến”, Mặt trận thì không có quyền “nhận hiến”

Cũng trong nội dung này, Quyết định 577/QĐ-XKT này cho rằng vào “năm 1980 nhà Trường nhận bàn giao khu vực doanh trại của bộ đội biên phòng mà Đan viện Thiên An đã nhường cho đơn vị công an vũ trang 5,5 sào trước đây để xây dựng doanh trại quân đội”. Tuy nhiên, pháp luật không quy định chế định “nhường”, vậy thì Đan viện Thiên An đã “nhường” bằng thủ tục nào? Và cũng như trên, “nhường” có tự nguyện, giấy tờ gì không?

Do đó, trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 3 Điều 159 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, việc đòi tài sản (nhà) là không tính thời hiệu và theo khoản 2 Điều 80 “một bên thừa nhận” thì không có nghĩa vụ chứng minh. Như vậy, chính nhà nước thừa nhận “tài sản nhà, trạm xá, giếng nước,ao cá…” của Đan viện thì Đan viện Thiên An không có nghĩa vụ chứng minh quyền sở hữu của Đan viện và có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết mà không tính thời hiệu theo khoản 3 Điều 159 BLTTDS.

Cũng vậy, “về Hồ Thủy Tiên và đắp đập Para năm 1977” quyết định cho rằng “sau năm 1975, Nhà nước đã quản lý và giao cho Xí nghiệp nuôi cá Huế…” Thế thì nhà nước đã quản lý và giao theo chính sách nào? Trình tự thủ tục ra sao?

Tóm lại, ngay cả các trường hợp nhà nước “đã quản lý” nhưng sử dụng sai mục đích, ảnh hưởng đến “tình cảm tín đồ” thì cũng cần phải xem xét lại và có thể trả lại cơ sở Tôn giáo có nhu cầu sử dụng. (Chỉ thị 1940/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31.12.2008). Việc Đan viện Thiên An “khiếu nại” là đúng pháp luật, phải được xem xét, giải quyết.

Huyền Trang, GNsP