Ông Thăng nói thật hay mị công nhân?

Đăng ngày

GNsP (26.08.2016) – Báo mạng VTCNews đưa tin, tại “buổi làm việc của Bí thư Đinh La Thăng ở Khu chế xuất Tân Thuận sáng 23.08 với vấn đề trọng tâm là nhà ở và đáp ứng các nhu cầu hưởng thụ văn hóa, đời sống của công nhân”, ông Đinh La Thăng đã đặt câu hỏi: “Công đoàn đã tổ chức cuộc đình công nào thành công chưa?” Trả lời câu hỏi này của ông Thăng, Chủ tịch Liên đoàn lao động Thành phố nói “chưa bao giờ”!

0-1463711150-1463791220412

Công đoàn quốc doanh

Điều 10 Hiến pháp qui định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Điều 1 Luật Công đoàn khẳng định rõ hơn: “Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, … là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam…”.

Theo quy định tại Bộ Luật Lao động (BLLĐ); Luật Công đoàn; Điều lệ Công đoàn; Nghị định huớng dẫn… thì quyền hạn, trách nhiệm của công đoàn dưới sự lãnh đạo của đảng là rất lớn, trong đó có quyền và trách nhiệm “tổ chức và lãnh đạo đình công …” (Khoản 10 Điều 10 Luật Công đoàn). Độc quyền “tổ chức và lãnh đạo đình công” được Điều 210 BLLĐ khẳng định:

“Tổ chức và lãnh đạo đình công: 1. Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo. 2. Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động”.

Trình tự đình công bao gồm: Lấy ý kiến tập thể lao động; Ra quyết định đình công; Tiến hành đình công… Được Điều 211 BLLĐ và Điều 12 Nghị định 43/2013/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn cụ thể.

Công đoàn được đảng giao độc quyền bảo vệ quyền và lợi ích công nhân, đứng ra “tổ chức và lãnh đạo đình công”, thế nhưng lãnh đạo cao nhất của công đoàn thành phố này thừa nhận “chưa bao giờ” công đoàn quốc doanh tổ chức thành công cuộc đình công.

Ông Thăng có nói thật?

Công đoàn quốc doanh “chưa bao giờ” tổ chức thành công cuộc đình công nào, cho dù ông Thăng thừa nhận có rất nhiều cuộc đình công, nhưng “tất cả các cuộc đình công đều là tự phát và đa số yêu cầu sau khi đình công đều được giải quyết. Như vậy rõ ràng yêu cầu của công nhân là chính đáng”. Lý do theo ông Thăng nêu ra là “chúng ta cứ coi thủ lĩnh công nhân là thủ lĩnh công đoàn nằm trong ban chấp hành. Nhưng công nhân họ có coi vậy đâu, họ không coi cán bộ công đoàn là thủ lĩnh. Trong khi các cuộc đình công rõ ràng đều có vai trò thủ lĩnh. Chúng ta phải suy nghĩ”. Nếu ông Thăng nói thật lòng, thì đúng là “chúng ta phải suy nghĩ” tại sao công nhân “không coi cán bộ công đoàn là thủ lĩnh”?

Trên thực tế, tổ chức công đoàn quốc doanh chỉ là “cánh tay nối dài” của chủ doanh nghiệp. “Thủ lĩnh” nằm trong ban chấp hành công đoàn, nếu không phải người của chủ cài cắm, thì cũng là người ăn lương của chủ, nên buộc phải múa theo chủ tối ngày. Chưa kể, đa phần “thủ lĩnh” đều không am hiểu pháp luật lao động, tự bản thân “thủ lĩnh” còn chưa tự bảo vệ được mình theo quyền hạn pháp luật lao động ban cho, lấy gì đảm bảo quyền lợi cho công nhân.

Ông Thăng “mị công nhân”

Cũng trong bài báo này cho biết: “Bí thư Thành ủy yêu cầu Liên đoàn Lao động TP.HCM nếu chưa tổ chức thành công thì cứ mạnh dạn tổ chức cho thành công. Ông cũng cho rằng chưa thành công là do tổ chức công đoàn chưa mạnh dạn làm việc đó”.

Ông Bí thư Đinh La Thăng xúi công đoàn quốc doanh “mạnh dạn tổ chức đình công”, điều này cho thấy ông Thăng có thể chưa biết hết qui định pháp luật về đình công; còn không chỉ là mị công nhân, trấn an công nhân trong bối cảnh xã hội các doanh nghiệp đua nhau bóc lột sức lao động của người lao động với mức lương rẻ mạt.

Công đoàn là “tổ chức và lãnh đạo đình công” được quy định rõ tại Điều 210 BLLĐ. Nhưng tại khoản 10 Điều 10 Luật Công đoàn lại thêm rằng “tổ chức và lãnh đạo đình công theo qui định của pháp luật”.

Cái đuôi thêm vào “theo quy định của pháp luật”, mà các qui định ấy, chỉ riêng tại BLLĐ cũng đã khó hiểu, ngay cả đối với những người nghiên cứu về Pháp Luật, huống chi là dám “mạnh dạn” thực hiện tổ chức và lãnh đạo các cuộc đình công như ông Bí Thư Đinh La Thăng đề nghị. Bởi lẽ, nhiều quy định trong BLLĐ đã kìm hãm và trực tiếp xâm phạm đến quyền đình công, tiền lương… của người lao động khi họ trực tiếp tiến hành tổ chức, tham gia các cuộc đình công với mục đích đòi hỏi quyền lợi cơ bản của công nhân từ giới chủ.

Sau đây chỉ trích ra nguyên văn một số ít trong nhiều qui định “rối rắm” của BLLĐ đã “kìm hãm” quyền đình công của công nhân; chúng tôi sẽ có dịp phân tích sâu hơn các qui định này:

Tại khoản 2 Điều 209 BLLĐ quy định: “Việc đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và sau thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 206 của Bộ luật này”.

“Thời hạn” giải quyết các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được qui định tại khoản 3 Điều 206 BLLĐ: “Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.

Trong trường hợp Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành thì sau thời hạn 03 ngày, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công”.

“Tiến hành các thủ tục để đình công”, BLLĐ quy định phải “lấy ý kiến tập thể lao động” có đồng ý hay không đồng ý đình công tại Điều 212:

“1. Đối với tập thể lao động có tổ chức công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của thành viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất. Nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng các tổ sản xuất hoặc của người lao động.

  1. Việc tổ chức lấy ý kiến có thể thực hiện bằng phiếu hoặc chữ ký.
  2. Nội dung lấy ý kiến để đình công bao gồm: a) Phương án của Ban chấp hành công đoàn về nội dung quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 213 của Bộ luật này; b) Ý kiến của người lao động đồng ý hay không đồng ý đình công.
  3. Thời gian, hình thức lấy ý kiến để đình công do Ban chấp hành công đoàn quyết định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 01 ngày.”

Sau khi việc lấy ý kiến có trên 50% tổng số người lao động đồng ý đình công thì “thủ lĩnh” thực hiện “tổ chức và lãnh đạo đình công” phải “thông báo thời điểm bắt đầu đình công” cho những người liên quan tại Điều 213 BLLĐ quy định:

“Thông báo thời điểm bắt đầu đình công: 1. Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với phương án của Ban chấp hành công đoàn đưa ra thì Ban chấp hành công đoàn ra quyết định đình công bằng văn bản.

  1. Quyết định đình công phải có các nội dung sau đây: a) Kết quả lấy ý kiến đình công; b) Thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công; c) Phạm vi tiến hành đình công; d) Yêu cầu của tập thể lao động; đ) Họ tên của người đại diện cho Ban chấp hành công đoàn và địa chỉ liên hệ để giải quyết.
  2. Ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu đình công, Ban chấp hành công đoàn gửi quyết định đình công cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi 01 bản cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, 01 bản cho công đoàn cấp tỉnh.
  3. Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động thì Ban chấp hành công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công”.

Tuy nhiên, BLLĐ cũng quy định những trường hợp đình công được gọi là tự phát, nằm ngoài kiểm soát của công đoàn quốc doanh, được Bộ luật này xem là “bất hợp pháp” và sẽ không giải quyết những đòi hỏi chính đáng của người lao động. Thậm chí, các nhóm công nhân tự đứng lên tổ chức đình công, khi công đoàn quốc doanh không lắng nghe nguyện vọng của người lao động mà “bảo kê” cho giới chủ, có thể bị nhà chức trách bắt bớ, câu lưu, giam cầm và vu cáo với những tội danh mơ hồ. “Những trường hợp đình công bất hợp pháp” tại Điều 215 quy định:

“1. Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. 2. Tổ chức cho những người lao động không cùng làm việc cho một người sử dụng lao động đình công. 3. Khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của Bộ luật này. 4. Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định. 5. Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công”.

Và đây là điều quan trọng, đe dọa đến nồi cơm của người lao động, và khuyến khích người lao động chống lại đình công tại Điều 218 BLLĐ: “Tiền lương và các quyền lợi hợp pháp khác của người lao động trong thời gian đình công: 1. Người lao động không tham gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công thì được trả lương ngừng việc theo quy định tại khoản 2 Điều 98 của Bộ luật này và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật về lao động. 2. Người lao động tham gia đình công không được trả lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác”…

Chỉ khi nào có các tổ chức Công đoàn của công nhân, không đặt “dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản” mới hy vọng có các “thủ lĩnh” mạnh dạn tổ chức và lãnh đạo đình công vì quyền lợi của công nhân. Và nếu ông Đinh La Thăng thật lòng bảo vệ các quyền lợi của người lao động, thay vì xúi công đoàn quốc doanh mạnh dạn, thì ông hãy “mạnh dạn” tổ chức và lãnh đạo thành hình các tổ chức Công đoàn tự do, thực sự bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Huyền Trang, GNsP