Bài 8: Các Đức Giáo Hoàng Đại Kết (phần I)

Đăng ngày

GNsP – Trong các bài trước, chúng ta đã tìm hiểu ít hàng về CÁC GIÁO HỘI KITÔ (bài 1 và 2); ĐẠI KẾT CÁC GIÁO HỘI KITÔ (bài 3); GIÁO HỘI CÔNG GIÁO với ĐẠI KẾT (bài 4); ĐỨC PHANXICÔ với ĐẠI KẾT; 1. ĐỨC PHANXICÔ gặp ĐỨC THƯỢNG PHỤ KIRILL (bài 5); 2. ĐỨC PHANXICÔ gặp ĐỨC THƯỢNG PHỤ KAREKIN II (bài 6); 3. ĐỨC PHANXICÔ gặp ĐỨC THƯỢNG PHỤ ILIA II (bài 7) và bài 8 này với đề bài CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG ĐẠI KẾT

Như chúng ta đã biết : theo lịch sử, mười thế kỷ đầu Giáo Hội chỉ có một. Nhưng theo dòng thời gian, với những yếu đuối và tội lỗi của con người, Giáo Hội duy nhất do Chúa Giêsu thiết lập đã bị phân chia thành Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống vào năm 1054. Năm 1519 thêm Giáo Hội Tin Lành tách khỏi Giáo Hội Công Giáo. Và năm 1535 thêm Giáo Hội Anh

Giáo tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo.

Sau gần 1.000 năm chia ly, các Giáo Hội đã tiến hành càc cuộc họp bàn để tiến lại gần nhau , làm thành phong trào Đại Kết (bài 2). Phong trào này, về phía Giáo Hội Công Giáo, đã được các Đức Giáo Hoàng kế tục nhau thực hiện cách tích cực, mạnh mẽ, mà chúng ta có thể gọi là

CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG ĐẠI KẾT.

I. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (25-4- 1881 – 3-6- 1963).

1.1. Vài hàng tiểu sử.

23Ngài tên khai sinh là Angela Giuseppe Roncalli, sinh ngày 25-4- 1881 tại Bergamo (Ý), là con trai đầu của ông bà Roncalli. Năm 1892, Ngài gia nhập chủng viện Bergamo. Hoàn tất năm thứ hai Thần học năm 1900.Ngài được gửi về Rôma học. Năm 1904 đậu Tiến sỹ Thần học. Ngày 10- 8- 1904 được thụ phong Linh mục và tiếp tục học giáo luật tại Rôma. Tháng 2-1905 làm Thư ký của Đức Giám mục Giáo phận Bergamo. Năm 1906, giảng dạy các môn Lịch sử Giáo Hội, Giáo phụ và Hộ Giáo trong chủng viện. Năm 1915, bị gọi nhập ngũ làm Tuyên úy chăm sóc thương binh. Giải ngũ Ngài được giao phụ trách công việc tại bộ Truyền gíao Năm.1925, Ngài phục vụ trong ngành ngoại giao Tòa Thánh cho đến năm 1952.
Ngày 19-3- 1925, Ngài được phong chức Giám mục tại Rôma và được cử đi Bulgaria, để giúp đỡ các cộng đoàn nhỏ bé tại đây. Ngài đã đặt nền móng cho việc thiết lập một Tông tòa và Ngài được bổ nhiệm làm Vị đại diện đầu tiên vào năm 1931.

Năm 1953, Ngài được bổ nhiệm làm Khâm sứ Tòa Thánh tại Thổ nhĩ kỳ và Hy Lạp. Năm 1944, Ngài được bổ nhiệm làm Khâm sứ tại Paris (Pháp) .Năm 1953, Ngài được ban tước Hồng Y và được chuyển về Venice.

Ngày 28-10- 1958, Ngài được bầu làm Giáo Hoàng thứ 261 của Giáo Hội, khi đã 77 tuổi. Ngài lấy Tông hiệu là Gioan XXIII. Nhiều người nghĩ : đây là Vị Giáo Hoàng chuyển tiếp, nhưng Ngài là một Vị Giáo Hoàng của thời đại.

1.2. Sơ lược sự nghiệp.

Ngày 25-01- 1959, Đức Giáo Hoàng (ĐGH) Gioan XXIII loan báo tại Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô, triệu tập Công đồng chung Vatican II. Các mục tiêu ban đầu của Công đồng đã được nêu rõ trong lễ khai mạc Công đồng : 11-10- 1962 : Công đồng không phải để đưa ra những chân lý mới, nhưng để xác định các học thuyết truyền thống, phù hợp hơn với sự nhạy cảm thời đại. ĐGH. Gioan XXIII mời gọi Giáo Hội, thay vì lên án và công kích, hãy hướng về lòng thương xót và ủng hộ việc đối thoại với thế giới , trong nhận thức mới về sứ mệnh của Giáo Hội là đón nhận tất cả mọi người. Trong tinh thần cởi mở phổ quát ấy, các Giáo Hội Kitô khác cũng được mời tham dự Công đồng, để khởi đầu một tiến trình xích lại gần nhau hơn.

Năm 1963 Ngài được trao giải thưởng Balzan về hòa bình, xác nhận những nỗ lực của Ngài đối với hòa bình, qua việc ban hành Thông điệp Mater et Magistra (Mẹ và Thầy năm 1961) và Thông điệp Pacem in Terris (Hòa bình trên Trái đất năm 1963) và vai trò của Ngài trong cuộc khủng hoảng tại Cuba vào mùa Xuân năm 1962.

Ngài đã thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam với ba Giáo tỉnh : Hà-Nội, Huế, Sài Gòn và đặt ba Tổng Giám mục và các Giám mục chính tòa cho các Giáo phận tại Việt Nam vào ngày 24- 11- 1960 và nâng Thánh đường La Vang, thuộc Tổng Giáo phận Huế lên bậc Tiểu Vương cung thánh đường.

ĐGH. Gioan XXIII được toàn thế giới yêu mấn. Ngài là Chủ chăn nhân lành, Giáo Hoàng nhân hậu, đơn sơ, nhưng can đảm, hiền hòa mà đầy sáng kiến.

Hoạt động Đại Kết Ngay từ năm 1931, khi làm Đại diện Tông tòa ở Bulgaria, Ngài đã phục hồi được mối quan hệ thân thiện với Chính phủ Hoàng gia Bulgaria và những mối quan hệ Đại Kết đầu tiên với Giáo Hội Chính Thông Bulgaria.

Khi làm Khâm sứ Tóa Thánh tại Thổ nhĩ kỳ và Hy Lạp từ năm1953, Ngài đã tổ chức được một số lần gặp gỡ chính thức với Đức Thượng Phụ Chính Thống Constantinopoli, sau nhiều thế kỷ tách biệt với Giáo Hội Công Giáo.

Khi lên ngôi Giáo Hoàng, Ngài dấn thân vào việc Đại Kết với hai sự việc quan trọng là : Năm 1960 thành lập Văn phòng Hiệp Nhất và triệu tập Công Đồng Vatican II (1962-1965),Công đồng đã soạn thảo nhiều Sắc Lệnh, Văn kiện góp phần thăng tiến sự Hiệp Nhất giữa các Giáo Hội Kitô, như dấu hiệu của niềm hy vọng vào sự Hiệp thông trọn vẹn trong tương lai, Ngài qua đời chiều ngày 03-6- 1963, sau 5 năm ở ngôi Giáo Hoàng, (28-10- 1958 – 03- 6- 1963)
Ngài được ĐGH. Gioan-Phaolô II phong Chân Phước ngày 03-9- 2000 và ĐGH.Phanxicô tôn phong Hiển Thánh ngày 27- 4- 2014. Lễ kính Ngài ngày 11-10 hàng năm, nhớ ngày khai mạc Công đồng Vatican II ngày 11-10- 1962.

II. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (26- 9- 1897 – 06- 8- 1978).

2.1. Vài dòng tiểu sử.

paul 6ĐGH.Phaolô VI tên khai sinh là Giovanni Battista Montini, sinh ngày 26-9- 1897 tại Lombardy (Ý). Gia nhập chủng viện năm 1916. Thụ phong Linh mục nắm 1920. Học Đại học Gregorio tại
Rôma. Năm 1922 học ngành ngoại giao và vẫn học Giáo luật. Năm 1923 làm Khâm sứ tại Warsaw, nhưng năm 1924 được về phục vụ tại Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh và năm 1937 làm phụ tá Quốc vụ khanh.Năm 1954, ĐGH. Piô XII bổ nhiệm Ngài làm Tổng Giám mục Milan, một Giáo phận lớn nhất nước Ý. Năm 1958 ĐGH. Gioan XXIII nâng Ngài lên tước Hồng y. Sau khi ĐGH.Gioan XXIII qua đời, Đức Hồng y Montini đắc cử Giáo Hoàng ngày 21-6- 1963 với Tông hiệu là Phaolô VI.

2.2. Sơ lược sự nghiệp.

Khi còn là Hồng y, Ngài đã tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị Công đồng Vatican II và sau đó tham gia Công iồng này. Khi được bầu làm Giáo Hoàng Ngài đã đưa Công đồng gồm ba thời kỳ đến kết thúc thành công, Ngài là Vị Giáo Hoàng đầu tiên thực hiện những chuyến Tông du đến khắp các lục địa, bắt đầu là vùng Thánh Địa. Ngài tiếp tục Tông du đến Ấn Độ và Liên Hiệp Quốc (1965). Đến Fatima và Thổ nhĩ kỳ (1967). Đến Columbia (1968). Đền Genève và Uganda (1969).Đến Úc và châu Đại dương (1970). Cũng năm 1970, Ngài đến thăm Hồng Kông, chỉ còn cách Trung quốc 29 km về mặt địa lý. Ngài cũng thực hiện nhiều chuyến viếng thăm nhiều nơi trên đất Ý.

Thông điệp đầu tiên của Ngài Ecclesiam Suam (1964) đề cao đối thoại cứu độ,trong Giáo Hội, và giữa Giáo Hội và thế giới. Ngài đã áp dụng các văn bản Công đồng Vatican II và thực hiện các cải tổ do Công đồng đề xướng. Ngài đưa ra những giáo huấn về hòa bình và lập ngày Hòa bình thế giới. Ngài phải chịu nhiều đau khổ vì các cuộc khủng hoảng liên tục ảnh hưởng đến Giáo Hội trong thời gian đó. Nhưng Ngài cũng tìm thấy niềm an ủi lớn lao trong việc thông truyền đức Tin và bảo đảm nền móng tín lý.

Ngài từ bỏ vương miện ba tầng và bán vương miện này .Tiền bán được này nhằm giúp công việc bác ái của Mẹ Têrêxa Calcutta. Từ đó,không Vị Giáo Hoàng nào dùng vương miện nữa.

Một nhóm người Công giáo Hoa kỳ đã mua được vương miện này với giá một triệu mỹ kim. Vương miện quý giá này được lưu giữ tại Đền Thánh quốc gia Hoa kỳ ở Washington DC.

Năm 1966, Ngài bãi bỏ danh mục các sách người Công giáo bị cấm đọc. Ngài đề cao sự Hiệp Nhất trong Công đồng Vatican II.
Trong 15 năm Giáo Hoàng, Ngài công bố 07 Thông điệp, Thông điệp cuối cùng là Humanae Vitae (sự sống con người ) gây nhiều tranh cãi. Gần đây, ĐGH Phanxicô gọi Thông điệp này có tính Tiên tri (Ngôn sứ) và nói Đức Phaolô VI đã can đảm đi ngược lại với đa số.

2.3. Hoạt động Đai Kết.

Ngài mong muốn cải thiện mối quan hệ Đại Kết với Chính Thống Giáo và Tin Lành. Ngài đã cố tìm cách đối thoại với thế giới, với người không là Kitô giáo, với các tôn giáo khác và người vô thần, không loại trừ ai. Ngài cho thấy một khả năng đáng kể trong việc hòa giải ở mọi lãnh vực.

Cuộc gặp gỡ Đại Kết lịch sử tại Thánh Địa.

Cuộc gặp lịch sử giữa ĐGH. Phaolô VI và ĐTP. Athenagoras tại Giêrusalem vào tháng Giêng năm 1964. Các tường thuật về cuộc gặp gỡ đầu tiên này thường giả định rằng : mục tiêu hàng đầu chuyến hành hương của ĐGH. là tạo dịp để gặp ĐTP. Đại Kết.Tờ America ngày 08-01- 1964 đã viết :”Mục tiêu tối hậu của ĐGH. Phaolô VI tới Đất Thánh chính là cơ may do việc này mang tới cho cuộc gặp gỡ đầy cảm kích”.

Hai tuần trước khi ĐGH. Phaolô VI khai mạc khòa II CĐ.Vatican II vào ngày 29-3- 1963, Ngài viết một bản ghi nhờ riêng, Ngài tỏ mối hy vọng :”Đây là cuộc hành hương của Giáo Hoàng tại Đất Thánh. Mục đích phụ là có được một cuộc gặp gỡ huynh đệ với nhiều hệ phái Kitô giáo khác nhau tại đó”. Trong diễn văn khai mạc trước Công đồng vào ngày 04-12- 1963, Ngài chia sẻ quyết định là thực hiện một cuộc hành hương đạo đức tới quê hượng của Chúa Giêsu Cứu Thế, vào tháhg Giêng năm 1964. Dường như quan tâm duy nhất của Ngài là thăm viếng các cộng đoàn Công Giáo tại các thánh điểm ở Do Thái và ở Đông Giêrusalem thuộc Giócđăng và Bờ Tây, và thương thảo với các nước đang có chiến tranh, đang tàn sát lẫn nhau.

Cuộc hành hương này được giữ hết sức bí mật với Giáo triều. Nó làm cho ĐHY Augustin Bea, ĐGM Johannes Willebrands và các nhân viên văn phòng Cổ vũ Hợp Nhất Kitô giáo như cha Pierre Duprey ngạc nhiên. Cha Duprey tiên đoán ngay sẽ có các cuộc gặp gỡ giữa ĐGH Phaolô VI với các ĐTP. Hy Lạp và Ácmêni tại Giêrusalem, ĐTP Beneddiktos I và ĐTP Yeghishe Derderian. Nếu Tòa Thánh không đưa ra các khả thể ấy với các Vị, chắc chắn sẽ có hậu quả không hay, chứng tỏ một sự thiếu lịch thiệp, bất cứ là cố ý hay không.

Cố gắng làm cho việc ấy xảy ra : ĐHY Bea, ĐGM Willebrands và cha Duprey muốn cho việc ấy xảy ra, nên đưa ra sáng kiến. Ngay hôm đó, ĐGH Phaolô VI đã nhận được tờ trình của các ngài. Trước khi ĐGH có đủ giờ suy nghĩ và phúc đáp, thì một thông cáo báo chí chung đề ngày 06-12-1963 của Tòa Thượng Phụ Istanbul, Thổ nhĩ kỳ thông báo: không những niềm phấn khích của ĐTP.Athenagoras trước quyết định lịch sử, mà còn nhận định rằng: “sẽ là công trình của Chúa quan phòng nếu, nhân dịp cuộc hành hương thánh thiện của ĐGH, mọi Vị đứng đầu các Giáo Hội Thánh Thiện của Chúa Kitô, cả Đông và Tây Phương, của ba nhóm tuyên tín, đều gặp nhau tại thành Thánh Xion”.

Thông cáo chung đưa ra lời kêu gọi hơi hấp tấp cho một cuộc gặp gỡ thế giới chỉ trong vòng một tháng, quy tụ các nhà lãnh đạo Kitô giáo dưới chân đồi Gôngôtha, cạnh ngôi mộ trống và gần Thượng Lầu Hiện Xuống.

Ngay năm 1954, trong một cuộc đàm đạo đầu tiên với ĐTP, cha Duprey đã được yêu cầu trình cho ĐGH. Piô XII (1939-1958) hay: “Tôi muốn được gặp Ngài, và tôi sẵn sàng đi nửa đường nhưng không thể đi thêm”. Và trong mùa Xuân trước ngày khai mạc CĐ. Vatican II, ĐTP. Athenagoras công khai tuyên bố rằng : Ngài sẵn sàng viếng thăm ĐGH Gioan XXIII tại Rôma, nếu ĐGH chịu đáp lễ, thăm Ngài tại Constantinopoli. ĐTP.thường mượn lời Tin mừng theo Thánh Gioan để nói về ĐGH tốt lành : “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan” (Ga 1,6).

ĐGH Phaolô VI vì thế mau mắn hành động. Ngài chấp nhận để cha Duprey, trong tư cách phái viên của ĐHY Bea, qua Istanbul và Giêrusalem ngay ngày 9-12 tháng 12-1963. Cha Duprey minh xác với ĐTP Athenaroras rằng cuộc gặp gỡ đại thể các Vị đứng đầu các Giáo Hội là việc không thể được, nhưng cha khôn khéo cho Ngài hay: “ĐGH sẽ đi hành hương Giêrusalem.

Nếu ĐTP.cũng có thể đi hành hương Giêrusalem vào những ngày này, Ngài sẽ sung sướng được gặp ĐGH. tại đó”. ĐTP. hân hoan trả lời và hy vọng rằng các Vị đứng đầu các Giáo Hội Tự Trị Chính Thống Hy Lạp khác sẽ chấp nhận hay ít nhất không phản đối việc này. Ngài sẽ tham khảo họ.

Dấu hỏi lớn nhất là : ĐTP. Benediktos của Giêrusalem . Theo một nghi thức có từ xưa của Công đồng Canxêđoan năm 451, ĐTP này sẽ là người đầu tiên cho mời ĐTP Constantinopoli.

Ngài sẽ là người đầu tiên chào Vị Giám mục Rôma (ĐGH) và là Thượng Phụ phương Tây, và Ngài sẽ đón tiếp cuộc viếng thăm đáp lễ của ĐGH Phaolô VI. ĐTP Benediktos vốn là người mạnh mẽ chống lại việc gửi quan sát viên Chính Thống Hy Lạp đến CĐ Vatican II. Ngài cho rằng :”Họ sẽ trực tiếp và thụ động chứng kiến các bài diễn văn và các quyết định bài Chính Thống”. Ngài tin rằng : Công đồng có mục tiêu cải đạo nhằm quyến rũ những người Chính Thống yếu đuối vào đạo Công Giáo”. Tuy nhiên, tại Giêrusalem, ĐTP Benediktos miễn cưỡng bảo đảm với cha Duprey rằng : Nếu Rôma tôn trọng các nghi thức thì Ngài sẽ hợp tác. Còn ĐTP. Ácmêni thì rất thuận hảo đối với việc gặp ĐGH. Phaolô VI và các Vị đứng đầu các Giáo Hội tại Giêrusalem. Các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương Coptic, các Giáo Hội Etiopia và Xyria cũng như Giáo Hội Anh giáo cũng thế.

Điều giúp làm dễ bầu khí tích cực trong các cuộc viếng thăm ngắn ngủi của cha Duprey là mọi Giáo Hội, chỉ trừ Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp, đều có gửi quan sát viên tới hai khóa đầu tiên của CĐ Vatican II.

Trong vòng hai tuần lễ kế tiếp, ĐTP.Athenagoras nhận được nhiều phúc đáp tích cực từ các Tòa Thượng Phụ Alexandria, Antioch, Moscow, Serbia, Rumania, Bulgaria.

Antioch đưa ra lời cảnh cáo này : đừng đặt dù chỉ một bàn chân lên đất Do Thái.. Vì thế, theo đề nghị của ĐTP. Moscow, mọi người nhất trí rằng : ĐTP. Athenagoras chỉ đại diện cho Giáo Hội Constantinopoli, chứ không đại diện cho toàn bộ Chính Thống giáo.
Chống đối công khai duy nhất diễn ra trong Giáo Hội Hy Lạp. Tổng Giám mục Chrysostomos II của Athens gọi chủ trương của ĐTP.Athenagoras là :”chết người” đối với quyền lợi Chính Thống Giáo. Ngài cho tổ chức một đêm canh thức cầu nguyện trên núi Athos “để duy trì Chính Thống Giáo khỏi các hậu quả của cuộc gặp gỡ đầy thảm họa tại Giêrusalem”. Chính phủ Hy Lạp và hầu hết hàng giáo sỹ và giáo dân thì tích cực hơn. Các phân khoa Thần học danh tiếng nhất tại Athens và Solonica đều hân hoan ủng hộ.

Một số giáo phẩm cao cấp trong Giáo triều chống đối ý niệm viếng thăm đáp lễ. Trong nhiều thế kỷ, nghi thức ngoại giao của Tòa Thánh chống lại việc ĐGH đi viếng thăm như thế. Sau khi Vị Quốc trưởng nào tới thăm ĐGH, thì một viên chức của Phủ Quốc Vụ Khanh sẽ viếng thăm tòa Đại sứ của nước đó tại Rôma. ĐHY Bea ghi lại rằng : ĐGH Phaolô VI không thấy có vấn đề nào khi phải đích thân viếng thăm đáp lễ ĐTP.Athenagoras và hai ĐTP Giêrusalem. Ngài từng nói : đến Chúa Giêsu cũng từng đi viếng bạn hữu của Người, thì có chi chống lại việc Vị Đại diện của Người trên thế gian cũng làm như Người?

Thời gian thật khẩn cấp. Sau lễ Giáng Sinh, một phái viên của Thánh Công đồng Constanti-nopoli là ĐTGM Athenagoras của Anh tới Rôma để trình bày “nghi thức tiếp đón”. Vị này từng phục vụ trong tư cách Giám mục tại Mỹ và Canada, và là Khoa trưởng trường Thần học Thánh Giá của Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp tại Brookline, Mass. Tòa Thượng Phụ công bố lời chấp thuận của họ vào ngày 31-12-1963.

Cuộc gặp gỡ tại Đất Thánh.

Bốn ngày sau, vào chạng vạng tối, ĐGH.Phaolô VI từ Giócđăng tới Giêrusalem. Tối hôm đó, ĐTP.Benediktos chào mừng Ngài tại trụ sở của phái bộ Tòa Thánh. Sau đó, Đức Phaolô Vi tới thăm ĐTP.Benediktos tại trụ sở của Tòa Thượng Phụ trên đỉnh Núi Cây Dầu. Ngày hôm sau, Đức Phaolô VI tiếp ĐTP.

Athenagoras tại trụ sở phái bộ. Bằng cái ôm hôn đầu tiên của các Tòa Tông truyền Rôma và Constantinopoli, do hai anh em ruột là Thánh Phêrô và Thánh Anrê thiết lập, kể từ khi ĐGH. Êugêniô và ĐTP.Giuse II gặp nhau tại cuộc hội ngộ của Công đồng Florence tháng 3-1438. ĐTP.Athenagoras gọi cuộc gặp gỡ này “là tia sáng đầu tiên của một ngày hạnh phúc khi các thế hệ tương lai sẽ tiếp nhận sự hiệp thông với Mình và Máu Thánh Chúa chúng ta từ cùng một chén thánh.” Để làm quà, ĐGH Phaolô VI tặng ĐTP.Athenagoras một chén thánh bằng vàng.

Ngày hôm sau, ngày lễ Hiển Linh, ĐTP Benediktos chào mừng ĐGH.Phaolô VI tại cửa nơi ĐTP. cư ngụ trên Núi Cây Dầu. Bên trong có ĐTP. Athenagoras. Các Vị cùng tiến qua nhà thờ chính tòa cạnh bên, cùng chủ tọa buổi cầu nguyện chung, bắt đầu bằng cái ôm bình an đầy tình huynh đệ.

ĐGH Phaolô VI và ĐTP. Athenagoras

UntitledHình mẫu cuộc gặp gỡ này được in trên bìa tạp chí Look. ĐTP. vạm vỡ ôm Vị Giáo Hoàng thấp hơn, gầy hơn trong vòng tay của mình. Hai Vị lặng lẽ mỉm cười, đôi mắt long lanh.Trong thông cáo chung sau đó, ĐGH Phaolô VI và ĐTP.Athenagoras, tự nhận mình là hai người hành hương mắt đăm nhìn Chúa Kitô. Các Ngài cầu xin để cử chỉ huynh đệ của các Ngài, sau quá nhiều thế kỷ thầm lặng… có thể trở thành dấu chỉ và mở đầu cho các điều sắp tới, nhằm vinh quang Thiên Chúa và soi sáng cho dân tín trung của Người. Có nhận định cho rằng : cái ôm hôn bình an và huynh đệ này, có khả năng nói nhiều thần học hơn một sơ đồ của Công đồng Vatican II. Biến cố này cũng thay đổi không khí của Chiính Thống Hy Lạp, đủ cho Tòa Thượng Phụ Đại Kết này gửi các Đại diện làm quan sát viên tại khóa III của Công đồng Vatican II. Các Nghị phụ thảo luận và sau cùng ĐGH. Phaolô VI chấp thuận và công bố Sắc Lệnh về Đại Kết vào ngày 21-11- 1964.

Gần kết thúc Công đồng, tức ngày 07-12- 1965, một phái viên của Thánh Công đồng Constan- tinopoli viếng Vương Cung Thánh đường Thánh Phêrô và một phái viên của ĐGH. Phaolô VI là ĐHY Lawrence Shehan của Baltimore đến viếng nhà thờ chính tòa Chính Thống Giáo Thánh George tại Istanbul. Các Vị đem theo mình tuyên bố chung của ĐGH Phaolô VI và của ĐTP.

Athenagoras nói rằng:”Chúng tôi muốn hủy bỏ khỏi ký ức Giáo Hội và khỏi tâm trí Giáo Hội án tuyệt thông (lẫn nhau) được công bố năm 1054 và muốn chôn nó trong quên lãng.

Như thế, ĐTP.Athenagoras quả đã khơi diễn bước đầu tiên dẫn tới việc hàn gắn cuộc ly giáo gần 1.000 năm nay. Còn ĐGH. Phaolô VI thì đã nắm lấy cơ hội này để cùng nhau khởi đầu một khởi đầu mới.Ngài là Vị Giáo Hoàng đầu tiên gặp gỡ các nhà lãnh đạo hàng đầu của Chính Thống giáo.Ngài đã làm mọi thứ có thể để thiết lập một tình bạn trực tiếp và cá nhân với Ngài, mở ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai Giáo Hội như hiện nay.

ĐGH. Phaolô VI đã qua đời tại Castel Gandolfo vào ngày 6-8- 1978 đang khi đọc kinh Lạy Cha, sau 15 năm ở ngội Giáo Hoàng (21-6- 1963 – 06-8- 1978). Ngài được ĐGH.Phanxicô tôn phong Chân phước ngày 19-10- 2014, ngày bế mạc Công nghị Giám mục về Gia đình.- (nguồn internet) (Còn tiếp phần 2).

Thạch Vinh

7-11- 2016 trong Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa