Ý nghĩa ngày lễ Giáng Sinh là gì?

Đăng ngày

GNsP – “Sau việc cử hành hằng năm mầu nhiệm Vượt Qua (Phục Sinh), Hội Thánh không có việc cử hành nào cổ xưa bằng việc kính nhớ Chúa Giáng Sinh và kính nhớ những lân tỏ mình đầu tiên của Người. Đó là Mùa Giáng Sinh “ (AC 32; lịch CG.năm 2017 tr.32)

Mùa Giáng Sinh bắt đầu từ giờ kinh chiều I lễ Giáng Sinh đền hết Chúa nhật lễ Hiển Linh. Từ thứ hai sau lễ Hiển Linh là tuần Mùa Thường niên trước Mùa Chay.

Giáng Sinh là gì? Tiếng Hoa là Thánh đản tiết. Tiếng Latinh là Nativitas. Tiếng Anh là Christmas (viết tắt là Xmas). Tiếng Pháp là No-en (lấy 2 âm tiết cuối của từ Emmanuel nghĩa là Thieên Chúa ở cùng chúng ta. Nuel thành No-en.

Giáng là hạ xuống. Sinh là ra đời. Giáng Sinh là xuống đời làm người. (dùng cho thần, tiên, phật, thánh). Lễ Giáng Sinh là một đại lễ trong năm Phụng Vụ Kitô giáo, để mừng mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người.

Lễ Giáng Sinh còn gọi là lễ Sinh Nhật Chúa Giêsu. Trong suốt 03 thế kỷ đầu Giáo Hội mừng lễ Hiển Linh vào ngày 06 tháng 01, để chỉ lễ Sinh Nhật của Chúa Giêsu, việc Người là Thiên Chúa “xuất hiện” trong thân phận con người”.

Đến thế kỷ IV, Giáo Hội Công Giáo Latinh mừng lễ này vào ngày 25-12 (ngày những người thờ thần Mặt Trời mừng “Mặt Trời bất diệt” để mừng Giáng Sinh của Đấng là mặt trời công chính (Ga 8,12), là “Ánh sáng thế gian”. Một số Giáo Hội Chính Thống và Giáo Hội Công Giáo phương Đông mừng lễ Giáng Sinh vào ngày 07-01 (nhằm ngày 25-12 theo lịch cũ – lịch Juliano). (TĐCG tr. 126-127).
Năm 312, Hoàng đế Constantino bỏ hẳn lễ thờ thần Mặt Trời của dân La Mã. Từ năm 384, ĐGH Liberius công bố ngày 25-12 là ngày mừng lễ Giáng Sinh. Ngày 06-01 là lễ Hiển Linh, tức là ngày Đức Giêsu tỏ mình cho dân ngoại, đại diện là Ba Đạo sỹ (Hiền Sỹ), trước CĐ Vatican II gọi là lễ Ba Vua

Mừng Lễ Giáng Sinh vào 25-12, nên mừng Lễ Truyền Tin vào 25-03, trước đó 09 tháng. Còn mừng lễ Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy giả vào 24-06 là ngày đài nhất, đêm ngắn nhất. Và từ 25-06 thì ngày càng ngắn dần và đêm thì dài dần ra. Cho nên Việt Nam ta có câu “:Tháng năm chưa nằm đã sáng”, mừng sinh nhật Thánh Gioan tẩy giả ngày đó vì Ngài nói :”Người (Đức Giêsu) phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,30).

Đến 25-12 gần tiết đông chí, ngày ngắn đêm dài nhất nên dân gian ta nói “Tháng mười chưa cười đã tối”. Từ 26-12 ngày dài dần ra, còn đêm thì từ từ ngắn dần lại. (Hiểu là Đức Giêsu ngày càng lớn lên, còn Thánh Gioan thì nhỏ lại).
Dịp lễ Giáng Sinh người ta có tục tặng quà cho nhau do lễ này Thiên Chúa ban tặng con người món quà tặng quý giá nhất là chính Con Một của Ngài.

Về Phụng Vụ, lễ Chúa Giáng Sinh là lễ trọng với tuần bát nhật. Lễ buộc. Lễ cầu cho giáo dân. (Lễ họ). Hôm nay, các linh mục có thể cử hành hay đồng tế 03 thánh lễ, miễn là vào giờ thích hợp cho mỗi thánh lễ. Linh mục có thể nhận bổng lễ cho mỗi thánh lễ này. (GL951,1).

Ngày 2-11 hàng năm lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (Lễ các đẳng). Mọi linh mục được phép cử hành hoặc đồng tế ba thánh lễ, miễn là cử hành vào các giờ khác nhau; có thể chỉ một ý lễ cho bất cứ ai và nhận bổng lễ. Còn ngoài ra, phải dành một lễ cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời và một lễ cầu nguyện theo ý ĐGH. (Không có bổng lễ đối với hai lễ này; Tông Hiến ngày 10-8-1915).
Còn mỗi tín hữu thì từ 01 đến 08-11, ai thành kính đi viềng nghĩa trang (hay phòng hài cối, phòng chờ Phục sinh còn gọi là “nghĩa trang nổi” và dù có cầu nguyện thầm cho các linh hồn, thì cũng được hưởng 01 ơn đại xá, với những điểu kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý ĐGH), nhưng phải nhường lại cho các linh hồn. (Trong tám ngày, mỗi ngày được hưởng một lần mà thôi.)

Như vậy là ngày lễ các đẳng (2-11) hằng năm mọi tín hữu đã qua đời đều được nhớ đến và cầu nguyện cho. Vì thế, không có linh hồn mồ côi, không có tín hữu nào đã qua đời mà không được Giáo Hội nhớ đến và cầu nguyện cho, mà là Giáo Hội toàn cầu. Các Linh mục trên toàn thế giới ngày đó phải làm một thánh lễ cầu cho họ. Còn một thánh lễ nữa cầu theo ý ĐGH. để ĐGH. chỉ ý cầu nguyện này cho các linh hồn đã xin lễ mà các linh mục nhận lễ nhưng chưa kịp cử hành vì quên sót, vì qua đời đột ngột hay vì bất cứ lý do gì chưa kịp cử hành thánh lễ cầu cho họ. ĐGH. dùng các thánh lễ này để chỉ cho các linh hồn đó và để các linh mục chưa làm tròn nhiệm vụ được thanh thỏa và không phải đền trả ở đời sau. Giáo Hội thực công bằng và cũng rất bác ái.

Có thể nói Lễ Giáng Sinh là ngày “đại xá” của các linh mục. Vì các ngài được cử hành nhiều hơn ba thánh lễ theo quy định chung và mỗi thánh lễ đều được nhận bổng lễ, miễn là có nhu cầu. Tuy nhiên, không được cử hành thánh lễ tại tư gia, vì lệnh cấm của giáo phận.

Xưa dân gian VN. có câu : “Sinh nhật, Đặt tên, Ba Vua, Lễ Nến; Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo”.
Đó là bản liệt kê tên các ngày lễ , Tết trong đạo, ngoài đời từ lễ Giáng Sinh đến Tết Nguyên đán, tức Tết âm lịch.

Lễ Đặt tên Đức Giêsu nay đã bỏ thay vào đó là lễ Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa, ngày thế giới hòa bình vào 01-01, đầu năm dương lịch..

Ai đặt tên cho Đấng Cứu Thế và Thánh Danh Giêsu có nghĩa là gì? Trong Bốn sách Phúc Âm thì chỉ có hai Thánh Sử Mátthêu và Luca tường thuật về thời thơ ấu của Đức Giêsu.
Phúc Âm theo Thánh Luca tường thuật sứ thần truyền tin cho Đức Maria như sau: “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,31)

Thánh sử Mátthêu viết: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21)

Nên Danh Thánh Đức Giêsu là Danh sứ thần Thiên Chúa truyền cho Đức Maria và Ông Giuse. Vậy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa vì tên gọi của Ngưới là do Thiên Chúa đặt.
Giêsu trong tiếng Do Thái có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ. Danh Thánh này nói lên căn tính và sứ mạng của Đức Giêsu, vì “chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. (Mt 1,21; GLHTCG 430)

Thánh Phêrô khẳng định: “Dưới gầm trời này , không một Danh nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào Danh đó mà được cứu độ”.(Cv 4.10-12; Pl 2.11) .

Còn từ Kitô là gì? Tiếng Hipri (Do Thái) là Mêsia. Tiếng Hoa gọi Chúa Kitô là Chủ Cơ Đốc. Tiếng Hy Lạp là Christos. Tiếng Latinh là Christus. Tiếng Anh và tiếng Pháp đều viết là Christ, nhưng đọc khác nhau. Từ Christos tiếng Hy Lạp được dịch từ tiếng Hipri Mêsia có nghĩa là “Đấng được xức dầu”.

Tước hiệu Kitô thường được dùng chung với Thánh Danh Giêsu như : Chúa Giêsu Kitô, Chúa Kitô Giêsu, Chúa Giêsu là Đức Kitô. Vì Người được Thiên Chúa thánh hiến, được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần Thần. Chúa Giêsu Kitô được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian để thực hiện sứ mệnh cứu chuộc nhân loại trong ba chức vụ : tư tế, ngôn sứ và vương giả. (GLHTCG 436).
Từ tước hiệu Kitô này, người tin Chúa Kitô được mang danh hiệu là Kitô hữu, nghĩa là bạn của Chúa Kitô. (TĐCG tr. 58-59).

LỄ NẾN.

Lễ này là lễ Dâng Đức Giêsu vào Đền Thờ, mừng vào ngày thứ 40 sau lễ Giáng Sinh, kết thúc những ngày lễ trọng mừng việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người. Giáo hội mừng lễ này vào ngày 02-02.

Sau khi sinh Đức Giêsu được 40 ngày, Đức Maria và Thánh Giuse đã làm như Luật dạy. Theo luật Môsê, người nữ phải được thanh tẩy sau khi sinh con (Lv 12) và dâng “con đầu lòng” để con trẻ thuộc về Thiên Chúa. (Xh 13, 12-13)

Con trẻ Giêsu chính là Đấng Mêsia (Kitô) mà các Ngôn sứ loan báo là “ánh sáng muôn dân”, là “Vinh quang của Ítraen.” Sự kiện ông Simêon và bà Anna đều gặp và nói tiên tri về Người trong biến cố này, biểu trưng cho toàn thể dân Ít ra en đến gặp gỡ Đấng Cứu Độ mà họ trông chờ. Con trẻ Giêsu cũng là “dấu hiệu cho người đời chống báng” và lưỡi gươm đâm thâu lòng bà được tiên báo cho Đức Maria, ám chỉ việc dâng hiến khác, hoàn hảo và duy nhất. Đó là việc dâng hiến trên Thập giá sẽ mang lại ơn cứu độ mà Thiên Chúa “đã dành sẵn cho muôn dân” (Lc 2,25-32; GLHTCG 529).
Vì Đức Giêsu là “ánh sáng muôn dân”, lễ này còn được gọi là Lễ Nến hay lễ Ánh sáng. Trong lễ có nghi thức làm phép Nến và rước Nến. (TĐCG. Tr. 87-88)

II. VÀI TẬP TỤC TRONG DỊP LỄ GIÁNG SINH

2.1. Hang đá (máng cỏ).

Thánh Phanxicô Assisi (1181-1226) ; là vị Thánh của nhân đức khó nghèo. Ngài lập dòng các Anh em Hèn Mọn (Ordre des Frères Mineurs viết tắt là OFM). Thường gọi là Dòng Phanxicô. Ngài tự nguyện làm Phó tế vĩnh viễn. Hang đá Belem là biểu tượng của khó nghèo. Vì vậy, Ngài yêu mến lễ Giáng Sinh. Chính Ngài đã nghĩ ra việc làm máng cỏ Giáng Sinh để tôn kính Chúa Hài Đồng và Thánh Gia Nadarét.

Theo tác giả Omer Englibert, hai tuần lễ trước Giáng Sinh năm 1223, trên đường từ Rôma về Assisi, thánh nhân dừng chân ở thị trấn Greccio, khoảng giữa quãng đường từ Rôma tới Assisi và gặp Jean Velita, một điền chủ giàu có vừa từ bỏ binh nghiệp để nhập Dòng. Kế cận Greccio là dải núi đá bao quanh một thung lũng rộng. Trên núi đá thẳng đứng có một cái hang được một hàng cây che khuất. Thánh Phanxicô nói : Ta mong ước cử hành lễ Giáng Sinh để suy tôn Chúa ra đời ở Belem, nhưng làm sao thể hiện được sự cơ cực và nỗi khổ đau của Ngài, ngay từ thuở còn tại thế, để cứu chuộc nhân loại. Vì vậy, ta xin con làm một hang đá giống như thật với cỏ khô. Con dẫn theo một con bò và một con lừa, giống như bò lừa đã chầu quanh Chúa Hài Đồng năm xưa.

Theo Celano kể lại, trong đêm Giáng Sinh các anh em ẩn sĩ quanh vùng và dân làng đốt đuốc sáng trưng địa điểm hành lễ… Bao nhiêu hang động xung quanh dội lại lời ca nguyện của các Thầy trợ sĩ chen lẫn điệp khúc của cộng đoàn. Thánh lễ cử hành trên một bàn thờ treo Thánh Phanxicô mặc áo thụng của thầy Phó tế giúp vị chủ tế. Ngài công bố Phúc Âm và chia sẻ Lời Chúa. Ngài dùng những lời dịu ngọt để nhắc lại việc Chúa Giêsu chào đời ở Be lem cách nay 12 thế kỷ. Ngài bắt chước tiếng bò khi phát âm tiếng Bethléhem . Velite kể lại : khi thánh nhân bắt chước tiếng bò , thì Hài Nhi Giêsu đang ngủ trong hang đã thức giấc, nhoẻn miệng cười cùng thánh nhân.

Máng cỏ ở Greccio đã ban ơn thiêng cho nhiều người và cho cả những gia súc bị bệnh tới gặm cỏ khô. Kể từ máng cỏ đầu tiên tậi Greccio (1223) hàng năm , tại các giáo đường và tại các tư gia trên khắp thế giới người ta bầy máng cỏ cùng với cây thông. (Theo Lê Đình Thông Giáng Sinh Paaris 2008).

2.2. Cây thông No-en.

Vào mùa đông, trong khi mọi cây đều trút hết lá trơ cành , thì riêng cây thông vẫn xanh tươi. Vì thế, người cổ đại coi thông là cây phục sinh. Vào ngày đông chí, họ trang trí cây thông với trái cây hoa và lúa mì. Lần đầu tiên cây thông được biết đến như loại cây của ngày lễ Noen là ở Đức.

Truyền thuyết kể lại rằng vào cuối thế kỷ VII,, Thánh Bonifacy,(sinh năm 680) cố gắng thuyết phục các đạo sỹ rằng cây sồi không phải là cây thẳng bằng cách cho đốn hạ một cây sồi. Khi cây sồi đổ nó đè bẹp mọi vật nằm dưới đường đổ của nó, trừ một cây thông nhỏ. Từ đó, ra đời ý nghĩa cây thông là cây của Chúa Giêsu Hai Đồng.
Đến thế kỷ XI cây thông còn được gán cho biểu tượng là cây Thiên đường, nên người ta treo trên cây những quả táo để gợi lại hình ảnh của Adam và Eva.

Đến thế kỷ XIV cây thông còn được gắn thêm ngôi sao ở trên đỉnh nữa. Đây là biểu tượng của ngôi sao Belem chiếu sáng trên bầu trời khi Chúa Hài Nhi ra đời, dẫn đường cho các Đạo sỹ (Hiền sỹ) đến Belem.

Đến thế kỷ XIX cây thông Noen mới được dùng rộng rãi ở Anh. Nó được đem sang Mỹ vào những năm 1820.

2.3. Ông già Noen (Santa Klaus)

Santa Klaus là Thánh Giám Mục Nicola (thế kỷ IV) lễ Kính hàng năm, vào gnày 06.12. Từ lúc còn nhỏ thánh nhân đã là một người ngoan đạo, đã hiến cả cuộc đời mình cho đạo Chúa Kitô.

Ngài được ca tung đặc biệt về tình yêu đối với trẻ em và sự hào phóng của Ngài. Vào thế kỷ XVI, trẻ em ở Hà Lan, thường đặt những chiếc giày gỗ của mình cạnh lò sưởi với hy vọng thánh Nicôla cho quà phủ phê. Năm 1882, Clê-man C. Mo-rơ viết bài hát nổi tiếng của mình với tên là :”The night before Christmas” (đêm trước Giáng sinh).. Ông được coi là người đã hiện đại hóa hình tượng ông già Noen bằng hình ảnh một ông già to béo, vui tính trong bộ đồ màu đỏ.

2.4. Bánh khúc cây.(Buche de Noel)

Tương truyền rằng : người phương Tây vào đêm trước Noen thường phải chặt một khúc gỗ lớn đem về nhà làm lể dâng rượu. Khúc cây được đặt trên lò sưởi đổ thêm dầu rượu nóng, rắc thêm muối và mọi người bắt đầu cầu nguyện. Người ta cho rằng tiếng lửa kêu lách tách và bột than từ khúc cây đã cháy, sẽ bảo vệ ngôi nhà khỏi thiên tai và sự xâm nhập của ma quỷ. Năm 1875, một thợ làm bánh người Pháp đã nảy ra sáng kiến làm một chiếc bánh ngọt hình khúc gỗ thay cho khúc gỗ thật.
Bánh được làm từ bánh bông lan cuộn kem mền mại với hương vị và màu sắc đa dạng, nhưng nhìn chung thì đều có một cách trang trí là làm chúng càng giống như khúc gỗ càng tốt.

III. LỜI CHÚA CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÁNG SINH. THÁNH LỄ BAN NGÀY.

Lễ Chúa Giáng Sinh gồm ba thánh lễ :
• Ngày 24-12 : Thánh lễ Ban Đêm :
Ba bài đọc trích trong : Is 9,1-6; Tt 2, 11-14;và Lc 2, 1-14.
• Ngày 25-12 . Thánh lễ Rạng Đông.
Ba bài đọc trích trong: Is 62,11-12; ; Tt 3,4-7 và Lc 2, 15-20.
• Thánh lễ Ban Ngày.
Ba bài đọc trích trong : Is 52,7-10; Dt 1,1-6 và Ga 1,1-18. hay Ga 1,1-5.9-14. Chủ đề : Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử con người.
Trong thế giới này có nhiều Vị Thần. Có thần do con người tạo nên. Có thần do con người tự nhận; có thần do con người phong chức cho. Vậy đâu là Thần đích thực và là Người điều khiển thế giới này ? Một trong những tiêu chuẩn giúp chúng ta là dựa vào dòng lịch sử của con người để tìm hiểu , kiểm chứng và xác nhận ảnh hưởng là sự can thiệp của Vị Thần này vào đời sống nhân loại.
Trong suốt Mùa Vọng và trong các Bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy chân dung của Vị Thần đích thực này chính là Thiên Chúa. Người không phải là một Vị Thần sống xa cách và không quan tâm gì đến cuộc sống của dân chúng . Trái lại, Thiên Chúa sống mật thiết và quan tâm tới mọi khía cạnh của con người suốt dòng lịch sử từ khi tạo dựng cho đến Ngày Cánh Chung.

3.1. Bài đọc 1. Trích sách Ngôn sứ Isaia 52, 7-10. Ý chính : Người bốn bể sẽ nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Isaia cho thấy sự can thiệp của Thiên Chúa vào cuộc sống của dân Chúa.. “Đẹp thay trên núi đồi, bước chân người loan báo Tin Mừng, công bố bình an, loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52, 7. “Hỡi Giêrusalem hãy bật tiếng reo mừng vì Đức Chúa an ủi dân Người. Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người, ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta người bốn bể rồi ra nhìn thấy.

3.2. Phúc Âm theo Thánh Gioan 1,1-18. Ý chính : Người đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.

Thánh Gioan nhìn thấy vai trò của Ngôi Hai ngay từ ban đầu, khi Thiên Chúa tạo dựng con người và vai trò của Người trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa . Chính người Con này đã nhập thể để ở với con người, để yêu thương, dạy dỗ và để hiến mình làm của lễ hy sinh đền tội cho con người. “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận…. Còn ai đón nhận… thì Người cho họ quyền trở nên Con Thiên Chúa.

Họ được sinh ra do bởi Thiên Chúa, Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 11-14). “Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” (Ga 1.17).

3.3. Bài đọc 2. Trích thư Do Thái 1,1-6. Ý chính : Vào thời sau hết Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.

Tác giả thư Do Thái cho thấy hai cách can thiệp khác nhau của Thiên Chúa . Xưa Ngài phán dạy qua các Ngôn sứ. Thời nay, Ngài dạy dỗ con người qua chính Người Con Nhập Thể của Ngài. Điều này đã được các Ngôn sứ Isaia và Giêrêmia loan báo trước. “Mọi người sẽ được dạy dỗ bởi chính Thiên Chúa”.(Is 54,13; Gr 31—33; Gâ,15).

Tóm lại ba bài đọc đều phục vụ một chủ đề. Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử con người . Người đến đem ơn cứu cho chúng ta trong bài đọc 1. Người trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta để yêu thương, dạy dỗ và hiến mình làm của lễ hy sinh, đền tội cho chúng ta trong bài Phúc Âm. Người phán dạy chúng ta qua nhiều cách : xưa Ngài phán dạy chúng ta qua các Ngôn sứ, Nay Ngài dạy dỗ qua Con Một của Ngài trong bài đọc 2.

Thạch Vinh