Hà Tĩnh: Lễ Tạ ơn Tân Linh mục Giuse Nguyễn Khánh Sơn, DCCT 

Đăng ngày

#GNsP (14.08.2017)- Vào lúc 8g sáng nay, 13/7/2017, tại Giáo xứ Đông Tràng, hạt Nghĩa Yên, Gp Vinh, tân Lm Giuse Nguyễn Khánh Sơn, DCCT đã chủ sự Thánh lễ Tạ ơn cùng với 7 tân Linh mục chịu chức cùng ngày và quý cha DCCT, quý cha thân hữu…tổng cộng gần 40 cha.
Sau đây là nội dung bài giảng của cha Giuse Hồ Đắc Tâm, Bề trên DCCT Cần Giờ trong Thánh lễ Tạ ơn này.

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Cách đây đúng 12 ngày, Thánh Lễ Truyền chức cho 12 Linh mục DCCT diễn ra thật long trọng. Sau đó các tân Lm túa ra cả nước để về quê hương dâng Thánh lễ mở tay linh đình.
Tuy nhiên, tất cả rồi sẽ qua đi rất mau chóng, để nhường chỗ cho một cuộc sống và một đời sống cộng đoàn, mục vụ bình thường, không có nhiều sôi động và hấp dẫn. Kinh nghiệm của quý cha lớn tuổi, bên Triều cũng như bên Dòng, cho thấy, đời sống tu trì và mục vụ hiện tại gặp rât nhiều khó khăn, muôn vàn cám dỗ, không chỉ từ bên ngoài thế gian, mà còn bên rong cộng đoàn, nhà xứ, và cả trong phòng riêng của mỗi người, nơi những phương tiện máy móc điện toán. Nếu không có ơn thánh Chúa trợ giúp, nếu không có một lập rường, một ý chí mạnh mẽ hiến thân phụng sự Chúa và tha nhân, nếu không có một đời sống cầu nguyện kiên trì, chắc chắn vị linh mục sẽ kéo lê một cuộc sống tầm thường, buồn chán, thậm chí sẽ sa ngã nặng và trở thành vấn đề cho Giáo phận, cho Hội Dòng và làm cớ vấp phạm cho giáo dân cũng như lương dân, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc truyền giáo của Hội Thánh.

1/ Linh mục cần ơn Thánh Chúa trợ giúp:
a/ Trước tiên là ơn kêu gọi: Bài đọc I chúng ta vừa nghe trong thánh lễ tạ ơn hôm nay được trích trong ngôn sứ Giê-rê-mi-a, nói về ơn gọi của chính vị ngôn sứ. Đức Chúa đã phán với vị ngôn sứ như sau: “Trước khi cho người thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết người; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa người, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” Như thế, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã được Đức Chúa kêu gọi làm ngôn sứ ngay khi Ngài còn trong lòng mẹ. Nhưng phải chăng chỉ có ngôn sứ Giê-rê-mi-a mới được ơn kêu gọi sớm như thế? Thưa không phải.
Phụng vụ của Mẹ Hội Thánh đã chọn đọc bài này trong Thánh Lễ Vọng mừng kính Sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, có ý nhắc chúng ta rằng chính thánh Gioan Tẩy Giả đã được hiên Chúa chọn, không chỉ ngay từ trong lòng mẹ, mà còn trước cả khi Ngài thành thai trong lòng mẹ nữa; nghĩa là chính vì được chọn làm Vị Tiền Hô cho ĐCT mà thánh Gioan Tẩy Giả mới được làm người. Cũng trong thánh lễ mừng kính thánh Gioan Tẩy Giả, lễ chính ngày, bài đọc I trích Í 49,1-6 có câu: “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ; lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi…. Người là Đấng nhào nặn tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, để tôi trở thành người tôi trung.” Như thế, ca ngôn sứ Isaia cũng ý thức mình được Thiên Chúa tuyển chọn làm sứ giả của Người trước khi Ngài chào đời.
Tân linh mục Giuse của chúng ta đây cũng ý thức hồng ân được Chúa kêu gọi làm sứ giả của Chúa, nên đã chọn những lời của ngôn sứ Giê-rê-mi-a để nói lên tâm tình tri ân của mình dâng lên Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chúa không chỉ ban ơn kêu gọi mà Ngài còn ban ơn trợ giúp để các sứ giả của Ngài để hoàn thành sứ mạng được trao phó.

b/ Tiếp theo là ơn trợ giúp để thi hành sứ mạng được trao phó. Cũng trong đoạn Sách Thánh nói trên. Đức Chúa phán với ngôn sứ Giê-rê-mi-a rằng: “Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi… Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi”. Đứng trước sứ mạng quá cao cả, vị ngôn sứ thấy mình quá nhỏ bé nên cảm thấy run sợ. Thiên Chúa trấn an và bảo đảm bằng chính sự hiện diện đầy quyền năng của Ngươi. Ngôn sứ không rao giảng ý tưởng của mình nên không cần vận dụng sự khôn ngoan, thông thái và tài khéo của mình. Ngôn sứ là sứ giả của Thiên Chúa, nên chỉ nói Lời của Thiên Chúa, và Chúa hứa sẽ đặt Lời của Ngài nơi môi miệng các sứ giả của Chúa. Tân Linh Mục Giuse cũng cảm nhận gánh nặng của sứ vụ vừa lãnh nhận trong một giai đoạn quá nhiều khó khăn và thách đố, trong Giáo hội, trong Nhà Dòng cũng như trong xã hội. Nếu chỉ là mộ linh mục bình thường, an phận với công việc mục vụ được giao, nhắm mắt trước những hoàn cảnh tang thương của đồng bào trong đó có cả những con chiên được giao phó cho mình chăm sóc, thì không nói làm gì; nhưng nếu muốn sống tinh thần ngôn sứ thì phải chấp nhận lội ngược dòng, phải trả giá bằng hiểm nguy, vu cáo, hãm hại. Dầu vậy, vững niềm xác tín vào tình yêu và ơn trợ giúp của Chúa khi được ơn kêu gọi, Tân Linh Mục đã chọn bài đọc II thánh lễ hôm nay là lời tuyên tín của thánh Phao-lô nói với tín hữu thành Rô-ma: “Ai có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bắt, gươm giáo? Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lục, hiệ tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì có thể tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kit-tô Giê-su, Chúa chúng ta”. (Rm 8,3.37-39)
Qua việc lựa chọn hai bài đọc I và II, chúng ta dễ thấy được Tân LM Giuse muốn lấy tinh thần ngôn sứ như là lựa chọn mang tính định hướng cho cả cuộc đời linh mục của mình. Lựa chọn ấy phù hợp với Tin Mừng, với Huấn quyền của Hội Thánh và cũng phù hợp với đặc sủng Hội Dòng Chúa Cứu Thế và Tân Linh Mục là thành viên.

2/ Linh mục sống tinh thần ngôn sứ: vì vinh quang Thiên Chúa và vì sự sống con người toàn diện.
Thật vậy, tinh thần ngôn sứ đòi hỏi Linh Mục hoạt động vì vinh danh Thiên Chúa, chứ không phải vì lợi ích của bản thân hay để đẹp lòng thế gian; mà “vinh quang Thiên Chúa là con người sống” (T. I-rê-nê), nên hoạt động của Linh mục phải nhắm đến sự sống toàn diện của con người, những con người cụ thể mà mình gặp gỡ, chứ không phải là con người bị đe dọa hay bị tổn thương, tinh thần ngôn sứ đòi hỏi Linh Mục phải hành động.
Tinh thần ngôn sứ là chính tinh thần Tin Mừng: Trong hội đường Nazareth, Đức Giê-su áp dụng lời ngôn sứ Isaia về sứ mạng của Đấng Thiên Sai cho chính mình như sau: “Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn, công bố cho kẻ giam cầm biế họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức”, Vì vinh danh Thiên Chúa, Đức Giê-su đã lên tiếng tố cáo lối sống đạo giả hình của giới lãnh đạo Do Thái. Ngài dạy các môn đệ mạnh dạn và công khai loan báo Tin Mừng Nước Trời, không sợ hãi bất cứ quyền lực thế gian nào. Ngài tuyên bố trong mối phúc thứ tám: Phúc cho ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Và còn lặp lại cách cụ thể hơn: “Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người khác sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa, anh em hãy vui mừng hơn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao.” Cuối cùng, chính Ngài, vì rao giảng sự thật của Tin Mừng mà chịu kết án tử hình thập giá.
Thánh Gioan Tẩy Giả cũng phải chịu tù tội và chịu chém đầu trong ngục cũng vì đã dám lên tiếng tố cáo hành vi loạn luân của Hê-rô-đê, gây gương mù gương xấu cho dân Do Thái.
Tin mừng Nước Trời luôn đi ngược lại tinh thần thế gian, luôn đụng chạm đến quyền lực của thế gian, luôn làm thế gian chê ghét. Các môn đệ đích thực của Đức Giê-su được kêu gọi để sống vì Nước Trời nên chắc sẽ bị thế gian thù ghét. Đức Giê-su đã nói rõ điều này với các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giá như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian sẽ yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” (Ga 15, 18-19)
Tinh thần ngôn sứ cũng là tinh thần Giáo huấn của Hội Thánh
– CĐ Vatiacan II, GS: Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người thời đại này, đặc biệt là những người nghèo đói và bất cứ ai sầu khổ cũng chính là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ ĐK.
– Giáo lý về học thuyết Xã hội của ĐTC Phanxico (DOUCAT)
1/ Trình bày những đòi hỏi về hành vi xã hội đúng đắn, như trong Phúc Âm;
2/ Nhân danh đức công bình, lên án những hành động và những thể chế xã hội, kinh tế hay chính trị đi ngược lại với sứ điệp Tin Mừng.
S.27 “ Giáo Hội là nơi diễn tả tình liên đới vĩnh viễn giữa TC với con người… Thiên Chúa cố gắng vươn tới muôn người ở mọi quốc gia và nền văn hóa để cứu giúp họ, qua một Giáo Hội biết theo gương Chúa Gieessu, thể hiện tình đoàn kết với những người cô thế, những nạn nhân của bất công và những người nghèo trong mỗi thời đại của Giáo Hội”.
S.30. “Trợ giúp phát triển và tuyên xưng đức tin phải đi đôi với nhau. Nếu Giáo Hội chỉ tuyên xưng đức tin mà làm ngơ trước điều kiện sống thê thảm của con người. Giáo Hội đó phản bội Đức Kito”.
S.33. “Được Tin Mừng truyền cảm hứng, Giáo Hội biến mình thành trạng sư để bảo vệ những quyền cơ bản của con người và của cộng đồng nhân loại. Theo cách ấy, Giáo Hội không muốn giành quyền lực hay ảnh hưởng thế tục. Chỉ là Giáo Hội có quyền và có nghĩa vụ phải lên tiếng khi sự bất công đe dọa đời sống xã hội.”

Tinh thần ngôn sứ cũng là tinh thần DCCT: Hiến Pháp DCTT ngay từ số đầu tiên đã tuyên bố: “Mục đích của Hội Dòng là theo gương CCK Cứu Thế bằng cách rao giảng Lời Chúa cho người nghèo, như chính Ngài đã tuyên bố về mình: ‘Người đã sai tôi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó’…. Dòng thi hành sứ vụ ấy với lòng nhiệt thành thừa sai nhằm đáp ứng những nhu cầu mục vụ khẩn thiết cho những người bị bỏ rơi hơn cả, đặc biệt là những người nghèo, bằng cách hiến mình hoàn toàn cho việc loan báo Tin Mừng”.
HP số 4 nói rõ hơn đối tượng của việc rao giảng: “Trong số những nhóm người cần đến sự trợ giúp thiêng liêng hơn cả, chúng ta đặc biệt chăm sóc người nghèo, người thấp hèn và người bị áp bức. Việc rao giảng cho những người này là một dấu chỉ của sứ vụ thiên sai, và Đức Ki-tô, một cách nào đó, đã muốn đồng hóa chính mình Ngài với họ.”
Và cách thức thực hiện sứ mạng thiêng liêng này được công bố trong HP.5: “Quả thế, sứ mạng loan báo Tin Mừng của Dòng cho người nghèo nhắm đến việc giải phóng và cứu độ con người toàn diện. Các tu sĩ có nhiệm vụ – rao giảng Tin Mừng các minh nhiên; – và biểu lộ sự liên đới với người nghèo qua việc thăng tiến những quyền căn bản của họ về công lý và tự do. Các phương tiện được sử dụng phải hữu hiệu và đồng thời phù hợp với Tin Mừng”.
Quy Luật Chung của Hội Dòng đã cụ thể hóa ưu tiên lựa chọn Sứ vụ này như sau:
09a. “Các tu sĩ của Dòng phải không ngừng tìm kiếm những người thiếu sự trợ giúp thiêng liêng hơn hết, nhất là người nghèo, người cô thân cô thế và người bị áp bức”.
09b. “Tu sĩ DCCT không bao giờ được giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu của người nghèo và người bị áp bức, nhưng phải có nhiệm vụ tìm kiếm những phương cách giúp đỡ họ, để chính họ có thể lướt thắng những sự ác đang đè nặng họ. Yếu tố chủ đạo này của Tin Mừng phải không bao giờ được thiếu vắng trong việc rao giảng lời Chúa”.
Ơn gọi thật cao quý, ơn trợ giúp thật dồi dào, lý tưởng hiến mình thật cao cả. Thế nhưng tất cả sẽ trở thành vô nghĩa nếu chính bản thân vị Linh Mục không mở lòng đón nhận và không thực hành. Vì thế, còn một điều kiện tối cần thiết nữa, đó là đời sống cầu nguyện.
3/ Linh mục cầu nguyện để có thể đón nhận ơn thánh Chúa và sống triệt để tinh thần ngôn sứ.
Cầu nguyện là hướng lòng lên Chúa. Người ta hay định nghĩa như vậy. Tuy nhiên cầu nguyện còn là thái độ mở lòng ra để đón nhận ơn thánh của Chúa. Thiếu đời sống cầu nguyện, người ta tìm kiếm những lợi ích vật chất hoặc niềm vui giả tạo chóng qua nơi tình cảm thế gian hoặc thú vui giải trí. Những giờ cầu nguyện và cử hành phụng vụ chỉ còn là hình thức, chiếu lệ. Ơn Chúa chỉ đến với tâm hồn nào còn dành chỗ cho Chúa. Bao lâu tâm hồn còn ngồn ngang với những lo lắng khác, ơn Chúa không thể đến được. Chúa luôn sẵn sàng ban ơn, nhưng Chúa cũng không ép buộc con người đón nhận ơn Thánh của Ngài. Chỉ trong cầu nguyện chuyên cần và liên lỉ, con người mới thấy cần ơn Chúa, mới sẵn sàng gạ bỏ khỏi lòng mình những vướng mắc và dành chỗ cho ơn Chúa đổ vào.
HP.DCCT số 30 viết: “Ngoài việc cử hành phụng vụ, nghĩa là Thánh Lễ và các Giờ Kinh PV, các tu sĩ có quyền và có nhiệm dành ra mỗi ngày ít là một giờ cầu nguyện.’ Tu sĩ DCCT là con cái thánh An-phong-sô, vị tiến sĩ Cầu Nguyện. Mỗi ngày ngài dành đến tám giờ cho việc cầu nguyện mặc dù bề bộn bao công việc. Có lẽ ít ai cảm nhận tầm quan trọng của việc cầu nguyện như ngài. Không lạ gì mà ngài tuyên bố một niềm xác tín đã trở thành châm ngôn cho cả Hội Thánh: “Ai cầu nguyện thì rỗi linh hồn; ai khong cầu nguyện thì mất linh hồn.” Nhưng chưa hết, với tu sĩ DCCT thì tuyên bố ấy còn một vế nữa: “Ai cầu nguyện nhiều thì nên thánh.” Con dám nói rằng: “Tân Linh Mục Giuse chỉ có thể sống trọn vẹn ơn kêu gọi và tinh thần ngôn sứ nhờ đời sống cầu nguyện chuyên cần và kiên trì.
Tu sĩ DCCT còn có một bí quyết để sống sung mãn sứ vụ đó nữa, đó là lòng sùng kính đặc biệt đối với Mẹ Maria. HP.32: “Theo truyền thống của Thánh Anphongso, tất cả các tu sĩ sẽ tôn kính Đức Trinh Nữ Maria hằng ngày. Tất cả được đề nghị lần chuỗi Mân Côi, ngõ hầu với lòng biết ơn, họ suy gẫm và bắt chước các mầu nhiệm của Đức Kito mà Đức Maria đã tham dự.” Trong kinh nghiệm của bản thân con, con cảm nghiệm Đức Mẹ đã giải thoát con khỏi những tính mê nết xấu và dọn sạch khỏi lòng con những quyến luyến, những đam mê không cần thiết, nhờ đó tâm hồn con có chỗ cho ơn thánh Chúa đổ vào, càng lúc càn nhiều hơn. Con cám ơn Đức Mẹ.

Kết luận:
– Tạ ơn Chúa đã tuyển chọn Tân Linh Mục Giuse ngay từ trong lòng bà cố, và hôm nay trao cho ngài sứ mạng làm ngôn sứ của Chúa.
– Tạ ơn Chúa đã giao vào tâm hồn Tân linh Mục lựa chọn sống tinh thần ngôn sứ: Tất cả vì vinh danh Thiên Chúa và vì sự sống toàn diện của con người.
– Xin Chúa gìn giữ Tân Linh Mục trong lý tưởng cao cả mà ngài đã chọn bằng cách ban cho ngài ơn chuyên cần và liên lỉ cầu nguyện, đặc biệt là say mê cầu nguyện với mẹ Maria theo gương của Thánh Tổ Phụ An-phong-sô.