Chúa Nhật XXII Thường Niên Năm A (03-9 -2017)

Đăng ngày

 

Chúa Nhật XXII Thường Niên Năm A (03-9 -2017)

Thạch Vinh

  1. Tìm hiểu thánh lễ. 27. Kinh Tin kính.

Phần Phụng vụ Lời Chúa kết thúc bằng kinh Tin kính do cộng đoàn đọc và lời nguyện giáo dân do một người xướng và cộng đoàn đáp. Xưa quen gọi phần lễ từ đầu đến đây là « lễ dự tòng » nhưng kiểu nói này không thích hợp chút nào, vì kinh Tin kính chỉ được đem vào đọc trong Thánh Lễ Rôma ở thế kỷ XI, là thời mà người ta không còn giữ những thói lệ về thời  kỳ  dự tòng nữa, và vì thế không còn tuyên bố mời các dự tòng ra về (missa) sau phần phụng vụ Lời Chúa. Đằng khác, lời nguyện giáo dân là lời nguyện dành riêng cho những người đã được rửa tội.

Tại sao phụng vụ Rôma lại đợi hằng bao nhiêu thế kỷ mới chịu đem Kinh Tin Kính vào đọc trong thánh lễ ? Vì kinh Tin kính là «dấu hiệu của đức tin», nghĩa là dấu hiệu để nhận ra một người có đức tin. Kinh này thuộc về phụng vụ bí tích Rửa tội. Thực ra, kinh này chỉ là một quảng diễn ba câu hỏi người dự tòng có tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi không? Câu hỏi này cùng với câu trả lời của người dự tòng: «Con xin tin»  chúng là  «mô thức»  của Bí tích Rửa tội trong thời gian khá lâu.

Nhưng đi sâu hơn,  ta thấy rằng việc đọc kinh Tin kính trong lễ có vẻ dư thừa đối với chính thánh lễ. Nguyên việc hành lễ, thực ra đã là một việc tuyên xưng đức tin rồi: “Mỗi lần anh em ăn bánh và uống máu này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Người lại đến”(1 Cr 11,2 b)

 Kinh Tin kính không phải chỉ là một bản liệt kê các điều phải tin, cũng không phải một bài tín lý rút gọn.  Đó là kinh tóm tắt toàn bộ lịch sử Thánh, từ việc sáng tạo đến sự sống đời đời qua việc Nhập thể việc Chúa Thánh Thần hiện xuống,  mầu nhiệm Giáo hội, và các bí tích. Đó là kinh nhắc lại chương trình cứu độ.  Thánh lễ cũng vậy, chính theo nghĩa đó mà thánh lễ được gọi là «mầu nhiệm đức tin».

   Nếu điều đó khó thấy trong lễ quy Rôma, thì lại rất rõ ràng trong những Kinh nguyện Thánh Thể mới.  Nhất là Kinh nguyện Thánh Thể thứ 4, kể lại từng chi tiết những giai đoạn của lịch sử cứu rỗi; cho nên đọc kinh Tin kính rồi mà còn đọc Kinh nguyện thứ 4 nữa thì là lập đi lập lại.

Tuy nhiên,  Giáo hội vẫn giữ kinh Tin kính trong Thánh lễ, ít là các ngày Chúa nhật và lễ trọng, có đông đảo giáo dân hơn. Vậy chúng ta hãy hoan hỉ mà đọc Kinh đó.  Thực ra, tuyên xưng Đức tin thì phải đọc hơn là hát,  hay nếu hát thì hát theo một cung rất đơn giản.  Cũng như kinh Lạy Cha, một dấu hiệu khác để những tín hữu nhận ra nhau.

Chúng ta thích đọc kinh tin kính vì hai lý do :  Trước hết, vì đó là một lời đáp lại bài Phúc Âm, sau khi Chúa Kitô nói với chúng ta, chúng ta bày tỏ rằng : chúng ta chấp nhận sứ điệp của Người. Thứ đến,  vì khi đọc Kinh đó, chúng ta nhớ lại đặc ân chúng ta được, do phép Rửa tội . Bí tích Rửa tội làm cho ta trở thành phần tử của một dân có quyền tế lễ và làm vua, làm cho ta có quyền dâng lễ với linh mục.  Hơn nữa,  bí tích đó còn thánh hiến chúng ta để trở thành lễ vật cùng với Chúa Kitô, bằng cách liên kết chúng ta với mầu nhiệm Chúa chịu chết và sống lại ( x. Rm 6,  3-11) và thánh hiến chúng ta, để phục vụ và tôn kính Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

xxx

  1. Lời nguyện giáo dân

Trước hết cần giải đáp một vấn nạn về lời nguyện giáo dân.  Một trong những nguyên tắc căn bản về canh tân phụng vụ là trong thánh lễ, phải cố tránh những lập đi lập lại làm lu mờ ý nghĩa và sự liên hệ giữa các nghi thức.  Thế mà lời nguyện giáo dân lại lập lại kinh «Xin Chúa thương xót» và lời kinh «Xin Chúa nhớ đến» trong Kinh nguyện Thánh Thể.

Ở trên chúng ta đã thấy kinh « Xin Chúa thương xót » là vết tích còn lại của Kinh cầu; chính vì phụng vụ mới muốn lấy lại Kinh cầu  này , nên mới đặt ra Lời nguyện giáo dân.  Nhưng sự lập lại ở đây không đáng kể mấy.

Kinh « Xin Chúa thương xót » được nhập vào nghi thức sám hối, nên có một vai trò mới và đáng được duy trì.

Còn về các kinh «Xin Chúa hãy nhớ»  thì chỉ có lễ quy Rôman là có 2 kinh để nhớ người sống và người chết.  Trong Kinh nguyện Thánh Thể thứ 2 và 3 khi muốn nhớ người chết thì có thể đọc một kinh riêng.  Trong những trường hợp trên, ta thấy nhớ riêng đến người sống này, hay người chết kia, và có chỗ để xướng tên họ ra nhưng đó chỉ là một ý nguyện riêng tư . Còn trong lời nguyện giáo dân thì chỉ có các ý nguyện chung.  Nếu có cầu nguyện cho người sống hay kẻ chết,  thì là cầu cho một hàng  người hơn là cho cá nhân!

Lời nguyện giáo dân cũng được gọi là Lời nguyện chung để chỉ đặc tính của Kinh cầu đó, vì đó là lời nguyện chung của mọi người tham dự, và cũng vì các ý cầu xin của nó

Trước hết, đó là lời nguyện chung,  vì là lời nguyện của mọi tín hữu có mặt . Mặc dầu, chủ tế mở đầu và kết thúc lời nguyện đó; mặc dầu có khi chính chủ tế, hoặc linh mục khác, hoặc thầy phó tế, người đọc sách hoặc người giải thích xướng lên các ý nguyện, nhưng đó chỉ là cái khôn mà thôi. Bản chất của  Lời Nguyện, chúng ta  là ở trong những câu đối đáp rất đơn sao mà tất cả giáo sĩ hay giáo dân phải đọc lên trong các nhà thờ thấy nhiều giáo dân vẫn không mở miệng khi đọc kinh đó ta có thể nghĩ rằng nhiều người chưa hiểu tầm quan trọng của lời nguyện này là lời nguyện giúp họ thi hành chức vụ tư tế chung của mọi tín hữu.

(còn nữa) Kỳ tới : Lời nguyện giáo dân (tiếp)

Trích : Tìm hiểu thánh lễ  của A. M Roguet , bản in ronéo không ghi dịch giả

 

  1. Lời Chúa Chúa Nhật XXII  thường niên năm A

Ba bài đọc trích trong:   1. Trích sách  Giêrêmia 20, 7-9

  1. Trích thư Rôma 12, 1-2
  2.     Trích Phúc Âm theo Thánh Mátthêu 16, 21- 27
  • Bài Ðọc I. Trích sách Tiên tri Giêrêmia  20, 7-9

Ý chính: Vì Lời Đức Chúa  mà con đây bị sỉ nhục và bị chế giễu suốt ngày làm cớ cho tôi bị nhục nhã”.

Đoạn trích là lời tâm sự của ngôn sứ Giêrêmia «Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng. Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con. Mỗi lần nói năng là con phải la lên: “Bạo tàn! Phá huỷ!”

Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày. Có lần con tự nhủ: “Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa.”

Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!(Gr 20, 7-9)

Vì không nén được nên phải nói ra phải Tuyên sống những lời sấm của hoang người nghe không thích không chấp nhận nên ông bị mù bạn đến nỗi không tự nhủ tôi sẽ không nhân dân người mà nói nữa nhưng đó chỉ là một hiện tượng vì lòng trung tín đã bén rễ sâu trong ông.

Người Do Thái thời sau nghĩ rằng, sau khi chết, ông Giêrêmia đứng trước Thiên Chúa để chuyển cầu cho họ ( 2 Mc 2, 1 và 14, 14) . Về sau, khi các ngôn sứ nói về các đau khổ của Đấng Cứu Thế, các ông sẽ nghĩ đến những thử thách của ông Giêrêmia.

  • Phúc Âm theo Thánh Matthêu 16, 21-27    

Ý chính : Ai muốn theo Thầy thì phải từ bỏ mình vác Thập Giá mình mà theo

Bài trích Phúc Âm hôm nay tiếp nối Phúc Âm Chúa nhật trước :  Mt 16, 13- 20. Tuần này cũng chương 16 từ 21-27 . Sau khi ông Phêrô  tuyên xưng ĐỨC Giêsu là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, thì Đức Giêsu bắt đầu tỏ ra cho các môn đệ biết:« Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy. » Ông Phê-rô cản Người: “Xin Thiên Chúa  đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Đức Giê-su trách mắng ông nặng lời: “Xa-tan,  hãy lui lại đàng sau Thầy , vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa…”

 “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”  Chúa muốn cho Phêrô hiểu là môn đệ, tức là người đi theo Thầy, đi sau Thầy, chứ không đi trước chỉ đường cho Thầy. Chúa xây Giáo Hội của CHÚA trên đá Phêrô, chứ không phải xây Giáo Hội cho Phêrô.

Thập Giá là Lôgô do chính Chúa chọn cho Giáo Hội Công giáo.

Thập Giá là con đường một chiều đi đến vinh quang. Từ bỏ mình, vác thập giá mình, mà theo CHÚA là đòi hỏi nghịch lý trong mọi thời, nhưng nếu có đường nào ưu việt hơn con đường thập giá, chắc chắn Chúa đã chọn.

  • Bài Ðọc II.  Trích thư Rôma 12, 1-2

Ý chính : Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ,  đổi mới tâm thần, để nhận ra ý CHÚA.

Thánh Phaolô khuyên nhủ: anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa, nhận ra cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Thiên Chúa, cái gì hoàn hảo.

Chúng ta phải không ngừng nỗ lực khám phá Suy niệm và hiểu biết ý muốn của Thiên Chúa trong mọi biến cố cuộc đời mình.

Tóm lại 3 bài đọc đều nói lên ý muốn của Thiên Chúa, người theo Chúa phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.

Ngôn sứ Giêrêmia vì Lời Chúa mà bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày. Ông muốn không nghĩ đến Chúa nữa, không nhân danh Người mà nói nữa. Những lời Chúa như lửa trong tim, âm ỉ trong xương tủy, không nén được nên phải nói ra, phải tuyên sấm (bài đọc  Gr 1 20, 7 – 9)

«Ai muốn theo Chúa phải từ bỏ chính mình vác thập giá mình mà theo» , Phêrô đã nói đúng căn tính của Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, nhưng không muốn Chúa chịu khổ nạn  và bị Chúa trách nặng lời.  Vì không theo ý Chúa. Người Do Thái nghĩ rằng Đức Giêsu là Giêrêmia vì có sự đồng hợp nào đó (Phúc Âm Mt 16 21 – 27)

Thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Rôma đừng rập theo thói đời, nhưng đổi mới tâm thần,  hầu nhận biết ý Chúa, để làm đẹp lòng Ngài (bài đọc 2 Rm 12,1-2)

        Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã thương cho chúng con được làm con Chúa.  Xin cho chúng con biết từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Chúa, hầu được trở nên thánh thiện, hoàn hảo đẹp lòng Chúa.