Kitô hữu là thừa sai của niềm hy vọng

Đăng ngày

GNsPDưới đây là nguyên văn bài huấn dụ của ĐTC Phanxicô về niềm hy vọng Kitô giáo vào sáng ngày thứ Tư 04.10.2017 trong buổi Tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô:

Tin Mừng theo thánh Luca chương 24 kể lại việc Chúa Kitô phục sinh hiện ra với các môn đệ như sau: “Trong khi các tông đồ còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em!’ Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: ‘Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?’ Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không? “ (Lc 24,36-41).

Vì thế, hôm nay, tôi muốn nói anh chị em về niềm hy vọng với chủ đề “Các Kitô hữu là thừa sai của niềm hy vọng hôm nay”. Tôi muốn dùng chủ đề điều này vào đầu tháng 10 là tháng truyền giáo và cũng hôm nay là lễ kính thánh Phanxicô Assisi – vị thừa sai vĩ đại của niềm hy vọng.

Thật thế, kitô hữu không phải là các tiên tri chuyên nói đến những chuyện tai ương. Anh chị em hiểu điều này không? Chúng ta không phải là người đi nói về các tai họa. Nhưng đặc tính của kitô hữu là lời loan công bố Chúa Giêsu đã chết vì yêu thương chúng ta và Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại vào sáng sớm ngày Thứ Nhất – ngày Phục Sinh. Và đó là trung tâm  của niềm tin kitô. Nếu các trang Tin Mừng chỉ dừng lại ở việc an táng Chúa Giêsu, thì Chúa Giêsu sẽ chỉ như bao nhiêu tiểu sử của các nhân vật anh hùng khác đã tiêu hao cuộc sống cho một lý tưởng. Lúc đó cuốn Tin Mừng sẽ chỉ là một cuốn sách giúp an ủi chứ không phải loan báo về niềm hy vọng.

Nhưng trang Tin Mừng không khép lại với ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Tin Mừng đi xa hơn nhiều! Và chính điều này biến đổi cuộc sống chúng ta. Các môn đệ của Chúa Giêsu đã bị ngã gục trong ngày Thứ Bảy sau khi Ngài bị đóng đanh.  Hòn đá đã lấp cửa mồ cũng đã đóng kín ba năm hăng say các ông sống với vị Thầy làng Nadarét. Xem ra tất cả đã chấm dứt, và vài người trong các ông đã thất vọng, sợ hãi, bỏ trốn khỏi Giêrusalem.

Nhưng Chúa Giêsu đã sống lại! Sự kiện bất ngờ này lật ngược và đảo lộn tâm trí các môn đệ. Bởi vì Chúa Giêsu không sống lại cho chính Ngài. Và nếu Ngài sống lại và lên với Thiên Chúa Cha là bởi vì Ngài muốn rằng sự sống lại của Ngài được chia sẻ cho mỗi người và lôi cuốn mọi thụ tạo lên cao. Và trong ngày lễ Ngũ Tuần các môn đệ được biến đổi nhờ hơi thở của Chúa Thánh Thần. Các môn đệ không chỉ mang tin mừng mang đến cho mọi người, mà chính các vị sẽ là những người đầu tiên như được tái sinh vào cuộc sống mới. Sự sống lại của Chúa Giêsu biến đổi chúng ta với sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu sống, và sống giữa chúng ta. Ngài sống và có sức mạnh biến đổi chúng ta.

Thật đẹp biết bao khi nghĩ rằng chúng ta là những người loan báo sự sống lại của Chúa Giêsu không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng các việc làm và với chứng tá cuộc sống nữa! Chúa Giêsu muốn các môn đệ không chỉ lập lại các công thức đã học thuộc lòng. Ngài muốn các ông trở nên chứng nhân: những người loan truyền niềm hy vọng bằng việc tiếp đó, tươi vui và yêu thương. Nhất là bằng tình thương vì sức mạnh của sự sống lại khiến cho các kitô hữu có thể yêu thương, cả khi tình yêu xem ra đã lạc mất các lý do của nó.

Có một sự trổi vượt trong sự hiện hữu kitô, và nó không được giải thích một cách đơn sơ với sức mạnh của tâm hồn hay một sự lạc quan. Đức tin, niềm hy vọng của chúng ta không chỉ là một sự lạc quan. Đó là một cái gì khác, hơn nhiều, trổi vượt hơn nhiều!  Điều đó như thể tín hữu là những người có một “bầu trời”  hơn nữa ở trên đầu. Điều này thật đẹp! Chúng ta là những người có một bầu trời nữa ở trên đầu, được đồng hành nhờ sự hiện diện mà không ai có thể trực giác được.

Như thế nhiệm vụ của các kitô hữu trong thế giới này là mở ra các không gian cho ơn cứu rỗi, như các tế bào tái sinh có khả năng trả lại nhựa sống cho những gì xem ra đã mất luôn mãi. Khi toàn bầu trời âm u, thì thật là một phước lành cho ai biết nói về mặt trời.

Kitô hữu đích thật là như thế đó! Không than van và giận dữ, nhưng xác tín nhờ sức mạnh của sự sống lại, xác tín rằng không có sự dữ nào vô tận, không có đêm đen nào mà không kết thúc, không có người nào sai lầm một cách vĩnh viễn, không có thù hận nào mà không có thể chiến thắng nhờ tình thương.

Chắc chắn là đôi khi các môn đệ sẽ trả giá đắt cho niềm hy vọng mà Chúa Giêsu đã ban cho họ. Chúng ta hãy nghĩ tới biết bao nhiêu kitô hữu đã không từ bỏ dân tộc của họ, khi thời bách hại đến. Họ đã ở lại đó, nơi người ta không chắc chắn với ngày mai, nơi không thể đưa ra các chương trình thuộc bất cứ loại nào. Họ ở lại đó và hy vọng nơi Thiên  Chúa. Và chúng ta hãy nghĩ tới các anh chị em vùng Trung Đông đã làm chứng cho niềm hy vọng và dâng hiến cuộc sống cho chứng tá ấy. Những người này là các kitô hữu đích thật. Những nguời này mang bầu trời trong tim, họ nhìn xa hơn, luôn luôn xa hơn.

Ai được ơn ôm lấy sự sống lại nơi Chúa Giêsu thì có thể hy vọng nơi điều không thể hy vọng. Các vị tử đạo thuộc mọi thời đại, với lòng trung thành của các vị nơi Chúa Kitô, kể lại rằng sự bất công không phải là tiếng nói cuối cùng trong cuộc sống. Nơi Chúa Kitô phục sinh, chúng ta có thể tiếp tục hy vọng. Những người nam nữ  có lý do “tại sao” sống, thì có nhiều sức kháng cự hơn những người khác trong thời gian lao khốn khó. Nhưng ai có Chúa Kitô bên cạnh, thì họ thật không sợ hãi gì hết. Và chính vì vậy các kitô hữu không bao giờ là những người dễ dãi và thoả hiệp. Đó là các kitô hữu đích thật! Không được lầm lẫn sự dịu dàng của họ với ý thức về sự không chắc chắn và nhượng bộ. Thánh Phaolô khích lệ Timôthê chịu đau khổ vì Tin Mừng và nói như thế này : “Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ” (2 Tm 1,7). Bị ngã họ luôn luôn đứng dậy.

Anh chị em thân mến, đó là lý do tại sao tín hữu kitô là thừa sai của niềm hy vọng. Không phải vì công nghiệp của họ, nhưng nhờ ơn của Chúa Giêsu là hạt giống đã rơi vào lòng đất, đã chết và đã sinh nhiều bông hạt (x. Ga 12,24).

GNsP (theo zenit)