CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN NĂM A (15-10-2017)

Đăng ngày

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN NĂM A (15-10-2017)

Thạch Vinh

  1.  Tìm hiểu thánh lễ .
  2. KINH NGUYỆN THÁNH THỂ
  3.  Bốn kinh nguyện Thánh Thể

Tiếng Kinh nguyện Thánh Thể (KNTT) cần phải hiểu theo nghĩa chính xác. Đây không phải bất cứ Kinh nguyện nào có liên hệ đến Thánh Thể, chẳng hạn các bài ca vịnh thờ lạy để hát trước Mình Thánh. Đây là phần trung tâm, phần rất thánh của Phụng vụ Thánh Thể. Đây cũng không phải chỉ là một kinh nguyện thường, mà là kinh nguyện làm nên Thánh Thể, nhưng việc làm này được gói ghém trong 1 kinh nguyện gồm nhiều yếu tố : tạ ơn, dâng tiến, cầu xin v.v… Kinh nguyện này bắt đầu từ bài Tiền tụng, và kết thúc bằng một câu chúc tụng: «Chính nhờ Người, với Người và trong Người…» trước khi Đọc kinh Lạy Cha (kinh này thuộc Phần hiệp lễ)

Phụng vụ Rôma, từ buổi đầu và suốt bao nhiêu thế kỷ, đã chỉ dùng có 1 Kinh nguyện Thánh Thể mà thôi… Vì thế người ta thường gọi là lễ quy (công thức cố định) . Từ năm 1968, phụng vụ Rôma, có thêm ba Kinh nguyện Thánh Thể khác nữa (viết tắt là  KNTT I tức lễ quy Rôma; còn ba  KNTT mới mang số II, III và IV) . Tại sao có sự thay đổi ấy ?

Lý do là như sau:  Sau cộng đồng, khi bắt đầu dịch lễ quy Rôma ra các tiếng địa phương,  người ta nhận thấy rằng KNTT đó gắn liền với một lối văn La tinh thật trang trọng, nhưng nếu dịch ra ngôn ngữ thời nay thì nhiều chỗ có vẻ vụng về và buồn cười nữa. Hơn nữa, KNTT đó còn có những chỗ lập đi lập lại, khiến người đọc có cảm tưởng là “ giậm chân tại chỗ”. Mặc khác, KNTT đó lại không thể nào sửa được, vì sửa là làm mất tính cách độc đáo của Kinh đó. Vì thế, các vị có thẩm quyền đã quyết định giữ nguyên KNTT cổ kính đó. Một trật đã soạn thêm một số Kinh khác để tránh những khuyến điểm mà chúng ta vừa nói tới, lại thêm nhiều ánh sáng mới về mầu nhiệm Thánh Thể mà sự phong phú không thể diễn tả hết chỉ bằng một Kinh.

Do đó, ta có thêm ba KNTT mới. Gọi là mới, vì bản văn mới soạn thật, nhưng phỏng theo những Kinh mẫu đã có từ trước. KNTT II bắt nguồn từ KNTT  cổ Hippôlitô ở Rôma đã chép lại trong cuốn Truyền thống  Tông đồ vào khoảng đầu thế kỷ thứ ba, KNTT III giống như nhiều KNTT của phụng vụ Đông phương… KNTT IV theo gần như lược đồ của Kinh II và III, nhưng dùng nhiều kiểu nói mượn trong Kinh Thánh và nhắc lại khá dài về lịch sử cứu độ.

Chúng tôi (tác giả) vừa nhắc đến những KNTT của Đông phương thường gọi là anaphora). Phụng vụ Rôma từ nay gần với phụng vụ Đông phương ở chỗ có thể dùng nhiều KNTT khác nhau. Đó là điều phụng vụ Đông phương từ xưa vẫn quan tâm, mặc dầu thực sự chỉ dùng một số nhỏ.

Ở đây, chúng tôi không có ý chú giải từng Kinh một, trong số bốn KNTT. Mà nay phụng vụ Rôma đang dùng. Chúng ta sẽ học hỏi chung cả bốn Kinh nguyện và chú trọng đến những điểm chung hơn là những điểm khác biệt, như thế vừa hay hơn và ích lợi hơn. Ta sẽ thấy rằng: các KNTT gần như theo cùng một dàn bài, và có thể từ đó rút ra một giáo thuyết chung. Trong tương lai có lẽ sẽ còn có những KNTT khác. Nhưng dù cách diễn tả có mới mẻ, thì các Kinh đó cũng không thể đi xa với một dàn bài phát xuất từ bản chất của KNTT, và dựa theo một truyền thống bắt nguồn từ khởi thủy Kitô giáo, và có khi còn xa hơn nữa, vì có lien hệ với truyền thống của phụng vụ trong các hội đường Do Thái.

Dàn bài của ba KNTT mới có phần nào khác dàn bài của KNTT I ( quen gọi là lễ quy Rôma), nhưng trong cả bốn kinh có cùng một số điểm cố định: Tất cả bốn KNTT đều bắt đầu bằng mấy lời đối đáp giữa linh mục và giáo dân, để mở đầu cho bài Tiền tụng, sau đó là Kinh “ Thánh, Thánh, Thánh”

Trung tâm điểm và chóp đỉnh của cả bốn kinh là những lời Chúa Kitô đã nói trong bữa tối sau hết: “ Này là Mình Ta… Này là chén Máu Ta…” Những câu tường thuật đi kèm với lời của Chúa thì đều y như nhau.

Trong tất cả bốn kinh, sau bài tường thuật về việc thiết lập bí tích Thánh Thể thì đều có lời tung hô tưởng niệm (anammesis) do dân chúng hát, và kinh tưởng niệm do linh mục đọc.

Sau hết, tất cả đều kết thúc và đi tới tột điểm với một câu chúc tụng giống nhau: “ Chính nhờ Người, với Người và trong Người …” , rồi giáo dân long trọng thưa Amen để kết.

Những gì tiếp theo, kể từ Kinh Lạy Cha trở đi, không thuộc về KNTT nữa, và không thay đổi; chỉ trừ tiền xướng với thánh vịnh hiệp lễ và lời nguyện sau hiệp lễ thì thay đổi tùy theo thánh lễ.

Trích : Tìm hiểu thánh lễ của A.M . Roguet, bản in ronéo, không ghi dịch giả.

  1.  Lời Chúa Chúa nhật XXVIII thường niên năm A

Ba bài đọc trích trong:             1. Trích sách Isaia 25, 6-10a

  1. Trích thư Philipphê 4, 12-14.19-20
  2. Phúc Âm theo thánh Mátthêu 22, 1-14
  • Bài đọc 1: Trích sách Isaia 25, 6-10a

Ý chính: Đức Chúa sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc trên núi Chúa.

Tiệc  Đức Chúa có thịt béo, rượu ngon. Trên núi của CHÚA, Người sẽ xé bỏ khăn che phủ mọi dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần.Chúa sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người. Và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá hết nỗi ô nhục của dân Người.

Ngày ấy, người ta sẽ nói: ” Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người. Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ.”

  • Bài trích Phúc Âm theo Thánh Mátthêu 22, 1-11

Ý chính: Nước Trời là một bữa tiệc vui của Thiên Chúa mà mọi người được mời tham dự.

Đức Giêsu dùng ngụ ngôn kể về một tiệc cưới vương giả. Vua sai đầy tớ đi mời các quan khách, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến.

Vua lại sai những đầy tớ khác đi và dặn họ:  «Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng:  này cổ bàn ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ hồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc. Họ không đếm xỉa tới, thậm chí có kẻ còn nhục mạ và giết chết các đầy tớ của nhà vua. Vua nổi giận sai quân đi tru diệt bọn sát nhân…

Nhận định rằng những kẻ đã được mời,  tuy là quan khách nhưng tỏ ra bất xứng.  Cuối cùng, nhà vua đã cho mời mọi loại khách, kể cả những người bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc đã đầy thực khách.

Vua vào quan sát thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới mới hỏi người ấy:« Sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?»Người ấy câm miệng, vua liền bảo những người phục dịch : “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm…” Vì “ kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít ”.

Đây là một dụ ngôn mang bầu khí của tiệc cưới thời cánh chung. Mọi người đều được mời vào tham dự tiệc cưới thiên quốc, nhưng họ phải tỏ ra xứng đáng, phải có trang phục thích hợp với Nước Trời, phải biết tôn trọng người mời là Thiên Chúa và các thực khách khác .

Vì thế, khi thấy có một người không mặc y phục lễ cưới, nhà vua đã rất buồn bã, nhưng vẫn xưng hô với người này như một người bạn thân thiết:  «Sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?». Khi không trân trọng tình bạn của đức vua, là sự ưu ái quá lớn lao mà nhà vua dành cho mình thì kết quả là bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài…»

Đến đây có người nghĩ rằng: vua bảo đi ra các ngả đường,  gặp ai bất luận xấu tốt cũng mời vào ».  Những người này sao có y phục tươm tất để vào dự tiệc?  Hoặc là vua có sẵn y phục lễ cưới để mọi người khi vào đây thì mặc vào, mà anh này không mặc nên bị tống ra bên ngoài ?

Đây là tiệc cưới giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người. Đức Kitô đến thế gian để mở ra một triều đại mới, triều đại của tiệc cưới Nước Trời, tràn đầy niềm vui và bình an. Tiệc cưới ấy cũng là tiệc cưới của mỗi chúng ta với Thiên Chúa. Đức Kitô đến giúp ta thực hiện sự kết hợp của hôn lễ thần thiêng này.

Thánh Phaolô nói với cộng đoàn Philipphê: tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen rồi.

 Đối với thánh nhân, Đức Kitô là chân giá trị tuyệt đối. Chỉ nơi Thiên Chúa và trong Đức Giêsu Kitô, ngài mới cảm thấy nhu cầu sâu xa nhất của mình được thỏa mãn cách tuyệt vời nhất.

***

Tóm lại, các bài đọc nói về tiệc cưới Nước Trời.  Nước Trời là một bữa tiệc vui của Thiên Chúa, Người khoản đãi muôn dân với thịt béo, rượu ngon trên núi CHÚA. Người sẽ xé bỏ khăn che phủ mọi dân và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ tiêu diệt tử thần và lau khô dòng lệ trên muôn mặt mọi người. Ngày ấy chúng ta cùng hoan hỷ vui mừng vì được Người cứu độ. ( Bđ 1. Is 25, 6-10a )

Nước Trời là một tiệc cưới vương giả. Vua sai đấy tớ đi Mời quan khách đến dự họ từ chối mua lại sai Các đầy tới khác đi Mời quan khách nhưng họ không thèm đến cuối cùng Vua sai đầy tớ ra các ngã đường gặp ai bất kỳ cũng mời vào cho đủ chỗ và phòng tiệc đã đầy thật khách nhưng có một người không mặc y phục lễ cưới nên bị loại khỏi bàn tiệc

Mọi người đều được mời tham dự tiệc. Nhưng đón nhận hay từ chối là sự tự do của con người và khi đã chọn phải đáp ứng những điều kiện nhất định (Phúc âm MT 22,1-14)

Thánh Phaolô chịu đựng được tất cả, nhờ Đấng ban sức mạnh cho ngài. Chỉ nơi Thiên Chúa và trong Đức Kitô, thánh nhân cảm thấy mình được thỏa mãn cách tuyệt vời nhất. (Bài đọc 2  Pl  4, 12-14.19-20)

  Lạy Chúa là Cha rất nhân từ. Xin giúp chúng con sống trọn vẹn tư cách là con cái Chúa, hầu xứng đáng tham dự tiệc vui Nước Trời mai sau.

 Tham Khảo: Nhịp Sống Tin Mừng số 10 tháng 10- 2017

11-10-2017 Thánh Gioan XXIII Giáo hoàng trong Năm Thánh Đức Mẹ Fatima.