CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN NĂM A

Đăng ngày

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN NĂM A

                                            Thạch Vinh

  1.  Tìm hiểu thánh lễ . B. KINH NGUYỆN THÁNH THỂ .
  2. Việc tạ ơn của chúng ta : Chữ Prex eucharistica,  theo bản dịch chính thức, dịch là kinh nguyện Thánh Thể nhưng dịch đúng nghĩa là «Kinh Nguyện tạ ơn» chữ Eucharistia là tiếng Hy Lạp, ngày nay thường chỉ mầu nhiệm bánh và rượu đã được truyền phép, chữ này phát xuất trực tiếp từ Phúc Âm khi thuật lại rằng ĐỨC Giêsu cầm lấy bánh «Tạ ơn Chúa».

Toàn thể  KNTT là lễ tạ ơn và mục tiêu này đã được nói lên ngay từ đầu trong những câu nói đến trước bài Tiền Tụng: “ Hãy nâng tâm hồn lên  (nghĩa là hãy hướng tư tưởng sang bình diện siêu nhiên hơn) -Chúng tôi đang hướng về Chúa -Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta. -Thật là chính đáng”. Cuộc đối thoại ngắn này là một trong những phần cổ kính nhất của thánh lễ. Ta thấy trong phụng vụ Đông Tây đều có, và có lẽ đã bắt đầu từ thời các Tông đồ. Muốn hiểu  KNTT, cần phải nhớ rằng bài tiền tụng không phải là phần nhập đề, nhưng chính là phần đầu long trọng của KNTT.

Có thể so sánh bài tiền tụng với «khúc nhạc mở đầu » (ouverture) giới thiệu mấy ý nhắc chính  toàn bộ vở nhạc kịch theo chiều hướng này, KNTT II và IV có bài tiền tụng riêng đi liền, đó là điểm đáng chú ý  ( KNTT II có bài tiền tụng riêng, nhưng có thể đọc với Tiền tụng khác. KNTT IV bắt buộc phải đọc với Tiền tụng riêng đi liền. Còn KNTT I và III không có Tiền tụng riêng).

Sau khi được dân chúng đồng ý, linh mục tiếp tục kêu gọi họ tạ ơn: “Lạy Chúa là Cha Chí Thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con cảm tạ Chúa mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, công bình và hữu ích cho phần rỗi chúng con. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con v.v…

Nhưng, một lần nữa, chúng ta đặt câu hỏi: Tạ ơn là gì ? Tạ ơn không phải chỉ là cám ơn, như người ta thường nghĩ. Đối với một ân huệ có giới hạn, thì người ta nói lời cám ơn người làm ơn, vì nói xong là hết bổn phận. Tạ ơn bao gồm sự biết ơn, nhưng là biết ơn vì một ơn huệ to tát, như được sinh ra làm người, được sống và biết ơn đối với Đấng Vô hạn, không mắc nợ ta sự gì.

Vì thế, việc tạ ơn biểu lộ một tâm tình mà lời tạ ơn không có, đó là tâm tình nhận biết mình không thể tạ ơn cho đủ đuợc, bởi vì ân huệ sâu xa quá, nhưng cũng không vì thế mà người chịu ơn cảm thấy hèn hạ, nhục nhã. Chúng ta biết rằng giữa ta và Đấng Vô hạn, không thể nào có được một sự bình đẳng hoặc là chỉ tương xứng đi nữa.

Vì thế, ta tạ ơn nghĩa là không phải chỉ đáp lại ơn Chúa bằng một sự biết ơn của loài người. Ta đã nhận được ơn thiêng của Chúa, nên lại dùng ơn thiêng ấy mà dâng lên CHÚA. Việc tạ ơn là một việc có tính cách thần thánh. Vì thế, việc tạ ơn không bao giờ hết được, khác hẳn với một lời cám ơn suông để trả hết nợ ngay. Đó là một sự “ biết ơn” về một món nợ  vô hạn, không bao giờ trả hết được. Thánh Phaolô khuyên luôn luôn phải tạ ơn trong mọi sự và vì mọi sự. Ta sẽ phải tạ ơn muôn đời.

Không phải tất cả mọi  phần trong KNTT hay cả trong thánh lễ nữa đều là tạ ơn. Thực ra, việc tạ ơn đã bắt đầu trước KNTT  rồi: trong tiền xướng nhập lễ, trong Kinh “Vinh danh”, trong câu kết thúc lời tổng nguyện. Nhưng ngay từ bài Tiền tụng tạ ơn, KNTT  có một sắc thái chung, vừa phấn khởi, vừa bình thản.

KNTT  là một kinh tạ ơn có tính cách phấn khởi vì có một đối tượng bao la và cao cả. KNTT  không phải là một bài diễn văn lý luận cũng không phải chỉ là lời tuyên xưng đức tin. Thánh Giustino  đã nói trong bài mô tả lâu đời nhất về Thánh Thể :  chủ tế tạ ơn “hết sức mình có thể”. Cho nên toàn thể  KNTT chứ không phải nguyên bài Tiền tụng, đều có tính cách phấn khởi, long trọng, cao quý, thi vị. Chính vì thế mà ngày nay, chủ tế cũng như các vị đồng tế được phép hát phần chính của KNTT.

***

Nhưng KNTT còn có tính cách bình thản: ta biết rằng việc tạ ơn không bao giờ có thể tương xứng với ân huệ nhưng không, vì thế mà cảm thấy băn khoăn hay nhục nhã. Trong lời tạ ơn, trong lời truyền phép, trong kinh tưởng niệm cũng như trong việc kêu cầu, và xin chuyển cầu ( sau đây ta sẽ bàn tới), KNTT sẽ không bao giờ có vẻ căng thẳng, khắc khoải, xúc động hay phóng đại.

Lý do là vì: KNTT không phải là công việc của một cá nhân, nhưng là của cộng đồng phụng vụ, và của toàn thể Giáo Hội. Dù chỉ có một mình vì chủ tế, nhưng khi đọc vẫn xưng là «chúng tôi» : Vả lại,  trong những câu đối đáp mở đầu, ngài có mời gọi cộng đồng hợp ý với ngài. Và nhất là bài Tiền tụng  kết thúc bằng việc gọi đến vô số các thiên thần, mà ta sẽ chung « một tiếng » với các ngài để hát: « Thánh,Thánh, Thánh». Chúng tôi đã nói ở trên,  việc Tạ Ơn là nhiệm vụ đời đời của các thánh.  Chính theo nghĩa này mà ta có thể nói nói đến việc « hiến tế trên trời». Trên trời không còn khi tế để hòa giải, để đền tội, mà chỉ còn hậu quả của việc đó.  Nhưng «Hiến Tế ngợi khen» thì còn mãi đời đời, và ngay từ bây giờ liên kết hiến tế ở dưới trần với lời ngợi khen của các thiên thần và tất cả các thánh.

Cơ cấu của việc Tạ Ơn cũng là cơ cấu của toàn thể KNTT. Đó là một cơ cấu hướng về Ba Ngôi Thiên Chúa, không phải theo khía cạnh mà thần học Tây phương quen chú ý đến, nghĩa là một bản tính duy nhất trong Ba Ngôi  (như trong bài tiền tụng lễ Ba Ngôi) nhưng là theo chiều hướng của thần học Đông Phương, cũng là chiều hướng của Phụng vụ : chú ý đến Ba Ngôi Thiên Chúa, theo nhiệm vụ riêng của mỗi Ngôi trong chương trình cứu độ.  Bài tiền tụng nhờ Đức Kitô mà trả lời với Chúa Cha. Đức Kitô không phải là mục tiêu cho việc thờ phượng của ta, Ngài là trung gian, là tư tế trong việc đó                                                                               (còn nữa)

   Trích: Tìm hiểu thánh lễ của A.M Roguet, bản in roneo không ghi dịch giả.

  1. Lời Chúa Chúa nhật XXIX TN năm A . Chúa Nhật truyền giáo

Ba bài đọc trích trong      1. Trích sách Isaia 45,1.4-6

  1. Trích thư 1 Thêxalônica 1, 1-5b
  2. Trích Phúc Âm theo thánh Matthêu 22, 15-21
  • Bài đọc 1. Trích sách Isaia 45,1.4-6

Ý chính : Thiên Chúa là Đấng quyền năng. Ngài điều khiển vận mệnh của toàn thế giới.

Đây là sứ điệp Đức Chúa gửi vua Kyrô chiến thắng. Đây là điều độc nhất vô nhị trong Kinh Thánh nói về vị vua ngoại đạo này,  ông đã được Đức Chúa xức dầu như các  vị vua dòng dõi vua Đavit.  Đây cũng là điều không thể tưởng tượng được đối với người Do Thái.  Họ quen nghĩ rằng Đức Chúa chỉ là Thiên Chúa của họ . Kinh Thánh ghi lại rằng: sau khi chiếm Babylon, một trong những sắc chỉ đầu tiên của vua Kyrô  là trả tự do cho những người đang bị lưu  đày tại đây.  Dân Itraen đuợc trở lại quê hương, hết kiếp lưu đày, xây lại Đền thánh Giêrusalem.

Ngôn sứ kêu mời chúng ta nhìn xem công trình Thiên Chúa làm trên thế giới qua những kẻ không nhận biết Người . « Dù ngươi không biết Ta.  Ta đã trang bị cho người đầy đủ,  để từ Đông sang Tây thiên hạ biết rằng chẳng có thần nào khác ngoài trừ TA. TA là Đức Chúa,  không còn Chúa nào khác.» (Is 45, 5b-6). Chúa can thiệp để thể hiện quyền năng và lòng thương xót của Ngài, giúp cho mọi người nhận biết Ngài.

-Trích Phúc Âm theo thánh Matthêu 22, 15-21

Ý chính: Của Xê da trả về Xê da của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.

Đức Giêsu từ Galilê đến Giêrusalem để dự lễ Vượt qua. Khi vào thành, Người được dân chúng đón rước trọng thể (Mt 21, 1-11). Ngay sau đó, Người đánh đuổi những người buôn bán tại Đền thờ ( Mt 21, 12-16 ). Giới lãnh đạo Do Thái rất khó chịu trước những hành động cho thấy ảnh hưởng lớn lao của Người trên dân chúng. Họ muốn bắt Người nhưng lại sợ dân chúng ( Mt 21, 45-46). Họ bèn gài bẫy Người với câu hỏi: Có nên nộp thuế cho Xê-da hay không ? Trả lời cách nào cũng sập bẫy. Nếu trả lời “ có” đồng nghĩa với việc ủng hộ Xêda cùng với đế quốc đang bóc lột Itraen. Người sẽ làm mất lòng dân chúng. Nếu trả lời “không” là chống đối Xêda, hậu quả sẽ thê thảm cho Đức Giêsu.

Người yêu cầu họ cho xem đồng tiền nộp thuế. Trên đồng tiền này (denarius) rõ ràng có hình Xêda Tibêriô (cai trị đế quốc Rôma từ năm 14 đến năm 37) và có dòng chữ ghi rõ: «Xêda Tibêriô  con của thượng đế Augustô thần thánh» . Vì thế khi người hỏi họ hình và danh hiệu này là của ai đây Họ đành phải xác nhận của  Xêda. Đức Giêsu nói:« Thế thì của Xêda hãy trả về cho Xêda,  còn của Thiên Chúa, hãy trả về cho Thiên Chúa».

Giới lãnh đạo Do Thái đương nhiệm công nhận chân lý này, nhưng họ đã thực hiện chưa hay chỉ giả vờ với việc bảo vệ vô số luật lệ bên ngoài mà lòng chúng thì xa TA!» (Mc 7,6)

  • Bài đọc 2. Trích thư 1 Thêxalônica 1, 1-5b

Ý chính: Chúng tôi nhớ đến lòng tin, lòng mến, và lòng trông cậy của anh em.

Thánh Phaolô tự giới thiệu ở đầu Thư: “Chúng tôi là Phaolô, Xinvanô và Timôthê, gửi Hội Thánh Thêxalônica ở trong Thiên Chúa Cha, và trong Chúa Giêsu Kitô. Chúc anh em được ân sủng và bình an.”

Đây là bản văn cổ nhất trong Tân Ước. Thánh Phaolô viết thư này vào năm 51.  Thư viết tiếp:  “ Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em… Chúng tôi nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô…

Khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi, mà còn có lời quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.”

********************

Tóm lại ba bài đọc nói lên quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa và bổn phận của chúng ta đối với Chúa.

Chúa điều khiển vận mệnh của thế giới. Mọi thế lực dù là sự dữ do con người gây ra, cũng biến thành cơ hội Thiên Chúa sẽ can thiệp để thể hiện quyền năng và lòng thương xót của Ngài, giúp con người nhận biết Ngài, và thực hiện ý định cứu độ của Ngài.  Xác tính được điều này, người tín hữu sẽ có cái nhìn quân bình trước mọi nghịch cảnh trong cuộc sống hàng ngày. (Bđ 1: Is 45,1. 4- 6)

Theo lẽ công bằng,  mỗi người đều có nhiệm vụ thi hành những bổn phận nhân sự đến với xã hội, cũng như chu toàn bổn phận với Thiên Chúa khi biết thực thi nhiệm vụ loan báo Tin Mừng của Chúa cho mọi người ( PÂ Mt 22, 15- 21)

Nếu biết đón nhận những khó khăn với niềm tin, chấp nhận những thử thách với lòng mến, kiên nhẫn chịu đựng với lòng cậy trông, người tín hữu sẽ sống trọn vẹn ơn gọi của mình, là những người được tuyển chọn     ( Bđ 2. 1Tx 1,1- 5b)

   Tham khảo:  Lời Chúa cho mọi người nxb tôn giáo năm 2009

   Nhịp sống Tin Mừng số 10 tháng 10- 2017.

18-10- 2017 kính thánh Luca thánh sử trong Tháng Mân Côi trong năm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima