Chúa Nhật XXX thường niên năm A

Đăng ngày

Chúa Nhật  XXX thường niên năm A

                            Thạch Vinh

  1. Tìm hiểu thánh lễ
  2. Việc tạ ơn của chúng ta (tiếp theo)

Sau hết, cần phải trở lại đối tượng của việc tạ ơn (tạ ơn vì sự gì?). Ở trên, chúng tôi đã nói vắn tắt, tạ ơn vì mọi ân huệ Chúa ban.  Kinh tạ ơn của người Do Thái thường kể ra việc Chúa sáng tạo và cứu độ, nghĩa là việc giải phóng khỏi Ai  Cập, biến cố Vượt qua (ví dụ: Thánh Vịnh «tạ ơn» 135). Trong lễ quy Rôma, không thấy nói đến sáng tạo, trừ trong kinh đi trước câu kết:  « Nhờ Người,  Chúa hằng sáng tạo … tất cả những lễ vật này». Các KNTT mới thì nói đến việc sáng tạo ngay từ đầu, nhất là trong KNTT IV. Nhưng trong Kitô giáo, chúng ta tạ ơn nhất là vì chương trình cứu độ, và trọng tâm của chương trình này là Mầu Nhiệm Phục Sinh rất hay. Nhưng sự lưu ý đến đối tượng của việc tạ ơn này là liên quan đến một yếu tố mà chúng tôi sẽ phân tích sau. Đó là việc tưởng niệm.

Để kết thúc bằng  phần tìm hiểu về việc tạ ơn, cần phải nhớ rằng: vì chúng ta cử hành bí tích, nghĩa là bao gồm kinh nguyện và cả hành động, nên việc tạ ơn không phải chỉ là nâng tâm hồn lên, hoặc công bố mà thôi. Việc tạ ơn còn sẽ được thực hiện theo nghĩa thực sự. Việc tạ ơn của ta chính là Chúa Kitô trong hiến tế của NGÀi. Tự mình chúng ta không thể nào tạ ơn cho xứng với những ơn thiêng liêng đã lãnh nhận. Nhưng như đã nói trên, ta không vì thế mà cảm thấy băn khoăn, nhục nhã.  Bởi vì việc tạ ơn của ta lặp lại và thực hiện việc tạ ơn của Chúa Kitô, nên sắp được cụ thể hóa, sắp được nhập vào hiến tế của Chúa Kitô: việc tạ ơn đưa đến việc thánh hiến, truyền phép.

  1.  «Đây là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con»

«Cầm lấy bánh, tạ ơn Chúa, đọc lời chúc tụng», «cầm lấy chén, tạ ơn Chúa, đọc lời chúc tụng». Như đã nói trên (số 29), sách Phúc Âm, khi thuật lại việc hóa bánh ra nhiều và việc lập bí tích Thánh Thể cũng như Thánh Phaolô khi nói về việc tiệc thánh của Chúa, khi thì dùng chữ «tạ ơn», khi thì dùng chữ «chúc tụng». Hai tiếng này đã trở nên như đồng nghĩa có thể dùng lẫn lộn được.  Còn KNTT I và III thì lại nhập hai tiếng đó làm một.   Đức Giêsu cầm lấy bánh… cầm lấy chén… tạ ơn Chúa, đọc lời chúc tụng».

Như thế, ý nghĩa được xác định.  Khi «tạ ơn» là làm nghi thức tạ ơn, thì Đức Giêsu đọc lời «chúc tụng» trên bánh, và chén,  nghĩa là NGÀi thánh hiến,  truyền phép.  Trong Kinh Thánh, tiếng chúc tụng có ý chỉ một sự hướng về Chúa, cũng như việc tạ ơn vậy.  Ở đây chính là bánh và rượu như được nâng lên tới Chúa. Đó cũng là ý nghĩa của chữ Latinh oblatio và Hy Lạp anaphora.

Đó là ý nghĩa đích thực, ý nghĩa quy hướng về Thiên Chúa của việc Truyền phép là việc thực hiện hiến tế. Những yếu tố trần gian là bánh rượu đã được thần thánh hóa.

Bánh rượu trở nên Mình và Máu CHÚA Kitô, không những trong thực tại của bản thể chúng, mà còn trong nhiệm vụ hiến tế nữa.   Đây là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con».  Cả bốn KNTT đều nói như vậy.  Đây là chén Máu Ta, Máu Tân Ước Vĩnh Cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội». Nhiệm vụ hiến tế của máu còn rõ ràng hơn là của mình (thân xác), nhất nữa, vì đó là chính «Máu giao ước mới đổ ra… cho nhiều người được tha tội» , không có hiến tế, thì không có giao thức và không có tha tội (xem Hy Bá (Do Thái ) 9, 22)

Việc nhắc tới giao ước, khiến ta phải lưu ý một điểm nữa. Việc truyền phép thực hiện giao ước, nghĩa là thực hiện sự hiệp nất mọi người thành một dân duy nhất, một thân thể duy nhất, và sự hiệp nhất của dân đó, của thân thể duy nhất đó với Thiên Chúa . Việc hiệp lễ sẽ diễn tả, minh xác, và làm cho mầu nhiệm hiệp nhất Kia thành riêng biệt cho mỗi người lãnh nhận,  nhưng mầu nhiệm này đã được thực hiện trong phần truyền phép Thánh Thể điều này xác nhận lập trường của Công giáo mà thánh Tôma đã quả quyết rất rõ ràng, là tất cả thánh lễ được thực hiện trong việc truyền phép Thánh Thể.

Tính cách bao gồm và cốt yếu của việc truyền phép bánh rượu chiếu tỏa trên tất cả phần phụng vụ Thánh Thể, đã được biểu thị ra nhất là trong việc trước khi truyền phép, Chúa Giêsu đã «bẻ bánh»  và trao cho các môn đệ mà phán: « tất cả các con hãy lãnh nhận mà ăn…» Ngài cũng làm như vậy với chén rượu: «NGÀi trao cho các môn đệ và phán : « Tất cả các con hãy lãnh nhận mà uống…» Dầu vậy, ta thấy việc bẻ bánh và rượu, cũng như việc ăn và uống, chỉ xảy ra về sau mà thôi. Còn việc truyền phép, tuy không thay đổi hình thức bề ngoài của bánh rượu, song đã sửa soạn Mình và Máu Chúa Kitô để được lãnh nhận khi hiệp lễ, như một «của ăn thật» và một «của uống thật»( Ga 6, 55)

Như vậy, mầu nhiệm hiệp nhất nói trên đã thực hiện một cách căn bản ngay khi truyền phép. (còn nữa)

 

Trích: Tìm hiểu thánh lễ A.M. Roguet, bản in ronéo không ghi dịch giả.

  1. Lời Chúa Chúa Nhật XXX thường niên năm A

Ba bài đọc trích trong: 1. Trích sách Xuất hành 22, 20- 26

  1. Trích thư 1 Thêxalônica 1, 5 c – 10
  2. Trích Phúc Âm theo Thánh Mátthêu 22,34-40
  • Bài đọc 1. Trích sách Xuất hành 22, 20- 26.

Ý chính: Thiên Chúa là chuẩn mực sự công bằng và nhu cầu sống còn của con người là ưu tiên trên hết.

Đức Chúa phán: “ Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi hay áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập.  Mẹ goá con côi, các ngươi không được ức hiếp.  Nếu bị ức hiếp nó kêu đến Ta, Ta sẽ nghe tiếng nó …  Ta sẽ cho gươm chém giết các ngươi … vợ ngươi sẽ thành goá bụa, và con các ngươi sẽ thành côi cút.

Nếu ngươi cho một người nghèo ở với ngươi vay tiền, thì không được bắt nó trả lãi. Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn.  Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân ; nó sẽ lấy gì mà ngủ Nó mà kêu Ta, Ta sẽ nghe nó, vì Ta vốn nhân từ.

Chúa quan tâm đến nhu cầu sống còn của con người. Và đó là ưu tiên hơn hết, ưu tiên trên mọi ưu tiên.  Vì Chúa rất nhân từ và hay thương xót, nhất là đối với người nghèo, người bất hạnh, người bơ vơ nơi xứ lạ quê người.

  • Phúc Âm theo Thánh Mátthêu 22,34-40

Ý chính :  Điều răn quan trọng nhất là phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, và phải yêu người như chính mình.

Người Do Thái thường tranh luận về tầm quan trọng của các điều răn trong Cựu Ước. Người biệt phái xác định được 613 điều răn trong bộ sách Torah ( tức Ngũ Thư là năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh). Trong đó có 248 điều lệnh ( ngươi phải…) và 365 điều cấm ( ngươi không được…) Trong 613 điều răn ấy đâu là điều răn quan trọng nhất? Đây là câu hỏi cơ bản và khó nhất mà các Kinh sư trước Chúa Giê su đã đặt ra nhưng họ chưa tìm lời giải đáp thỏa đáng. Vì thế, các đối thủ của Đức Giê su đã đưa câu hỏi khó đó để thử thách Người.

Câu trả lời của Đức Giêsu hàm chứa lời Kinh “Shema” (Sêma) của Do Thái: “ nghe đây, hỡi Itraen: Đức Chúa, Thiên Chúa  chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em” ( Đnl 5, 4-5) GIống như chúng ta tuyên xưng đức tin với Kinh Tin Kính, người Do Thái đọc Kinh Shema ấy mỗi ngày để tuyên xưng niềm tin của họ.

Mặc dầu, Đức Giêsu được yêu cầu đưa ra một điều răn thôi. Ngài đã vượt qua phạm vi của câu hỏi để thêm vào điều răn thứ hai trong sách Lê vi 19,18: “ Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình”

Điều răn kép “ Yêu Chúa và yêu người” là chu toàn mọi lề luật không phải có nguồn gốc ban đầu từ Đức Giê su. Nó đã tồn tại trong Kinh Thánh Do Thái từ rất sớm. Điều mới mẻ nơi câu trả lời của Đức Giê-su là Ngài xác quyết: không thể có điều này mà thiếu điều kia. Ngài cho thấy : động lực để yêu thương tha nhân không chỉ là một yêu cầu hoặc một thành tựu phát xuất từ tình yêu đối với Chúa, nhưng tình yêu tha nhân còn là điều kiện tiên quyết cho thấy là tình yêu Chúa cách chân thực.

Ta thực hiện điều răn “mến Chúa yêu người” vì ta được dựng nên giống hình Thiên Chúa, Đấng có bản chất là tình yêu.

Trong thử thách Chúa Giêsu đã chứng tỏ Người là vị tôn sư đích thực của toàn thể nhân loại.

  • Bài đọc 2  Trích thư 1 Thêxalônica 1, 5 c – 10

    Ý chính : Anh em đã từ bỏ ngẫu tượng, để phụng sự Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật.

Các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca đã bắt chước Thánh Phao lô và noi gương Chúa, khi đón nhận Lời Chúa giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban. Các tín hữu này đã nên gương cho mọi tín hữu ở miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a.  Từ nơi tín hữu này lời Chúa đã vang ra, không những ở Ma-kê-đô-ni-a và A-khai-a, mà đâu đâu người ta cũng nghe biết lòng tin của các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca đặt vào Thiên Chúa, khiến Thánh Phao lô  không cần phải nói gì thêm nữa. Họ đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa, phụng sự Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật…

 ***

Tóm lại, các bài đọc nói đến tình yêu thương xót và lòng nhân từ của Thiên Chúa và luật mến Chúa yêu người.

Chúa rất nhân từ và thật công bằng. Nhu cầu sống còn của con người, nhất là ngoại kiều, mẹ góa con côi, người nghèo… luôn là ưu tiên trên hết mọi luật ưu tiên. (Bđ 1 . Xh 22, 20- 26)

Điều răn quan trọng nhất trong 613 điều răn trong bộ sách Torah trong có 248 điều lệnh phải làm và 365 điều cấm thì điều quan trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa hết dạ, hết lòng, hết sức anh em và yêu đồng loại như chính mình “ Yêu Chúa và yêu người là chu toàn mọi lề luật ”  (Phúc Âm Mt 22,34-40)

 Các tín hữu sống đức tin cách trọn vẹn khi trải qua ba bước là lãnh nhận đức tin, đáp ứng mọi nhu cầu thời đại – thông truyền đức tin tinh ròng cho thế hệ tương lai (Bđ 2 : 1 Tx 1, 5 c – 10)

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn tuân giữ điều răn yêu thương yêu Chúa hết lòng và yêu người như chính mình. Yêu như Chúa yêu.

Tham khảo: Nhịp sống Tin Mừng số 10 tháng 10-2017.

26-10-2017  trong thánh Mân Côi trong năm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima.