Chúa Nhật XXXI thường niên năm A

Đăng ngày

Chúa Nhật XXXI thường niên năm A

                         Thạch Vinh

 

  1. Tìm hiểu thánh lễ: Đây là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con (t. theo)

Việc truyền phép được thực hiện thế nào ? Ta biết rằng: nhờ những lời nói của chính Chúa Kitô mà linh mục đã làm cho Chúa “hiện diện” (Xem số 6 về các cách hiện diện). Không phải các lời của linh mục thực hiện việc truyền phép, mà là chính là lời của Chúa Kitô mà linh mục đọc lên, vì linh mục đã được Đức Giám mục truyền chức để nắm giữ những quyền của Chúa Kitô.

Bởi vì chính Chúa Kitô toàn năng đã nói:  « Đây là Mình Ta» nên ta tin rằng: đúng như vậy, có Mình Chúa ở đó thực sự.

Nhưng làm thế nào việc truyền phép này lại là một hiến tế ? Ta không thể hiểu được điều đó, nếu ta cứ nghĩ rằng Hiến Tế là phải chết có đổ máu. Việc chết có đổ máu thì đúng với trường hợp của hiến tế có thực trong lịch sử, như sự chết của Chúa Kitô trên thập giá, nhưng không đúng với trường hợp của Hiến Tế trong bí tích tạ ơn, trong đó không thấy xác, không thấy máu, nhưng chỉ đức tin mới nhận ra những thực tại đó trong hình thức bánh rượu sau khi được truyền phép.

Thánh lễ là một hiến tế,trước hết bởi vì làm lại việc mà Chúa Giêsu đã làm trong bữa tiệc sau hết, một việc có liên hệ mật thiết với cuộc Tử nạn. Bữa tối là cuộc tử nạn chính là “giờ” của Chúa Giêsu . KNTT Đều nói đến điều đó vào phần đầu của lời tường thuật thiết lập: “ Hôm trước ngày chịu nạn …” ( KNTT I) Khi tự ý nộp mình chịu khổ hình…( KNTT II) : “ Trong đêm bị nộp …” (KNTT III). Khi đến giờ Cha tôn vinh Người và vì yêu thương các môn đệ còn ở trần gian. Người đã yêu thương hết thảy đến cùng” (KNTT IV)

Ta cũng nên lưu ý đến câu này trong KNTT II : “Khi tự ý nộp mình chịu khổ hình” Chúa Giêsu đã nói : “ Nếu Cha yêu mến Ta, thì chính là vì Ta thí mạng của Ta để rồi lấy lại. Không ai cướp mạng sống Ta được, nhưng chính Ta tự thí mạng của Ta để rồi lấy lại. Ta  có quyền thí mạng và cũng có quyền lấy lại. Đó là lệnh truyền mà Ta đã nhận nơi Cha Ta  (Ga 10,17-18).

Đối với loài vật là những lễ vật vô hồn trong các biến cố cổ xưa, việc hiến tế hoàn toàn có tính cách thụ động.Đối với vị tư tế, hiến tế  là hành vi tự do và đáng công đã được làm vì vâng lời, bởi lẽ vâng lời là tỏ lòng yêu mến. Còn hiến tế của Chúa Giêsu thì hoàn hảo,  vì tư tế và lễ vật chỉ một mình Ngài, hoàn toàn tự do và tự nguyện. Và Chúa Giêsu cũng đã tự ý thiết lập hiến tế của Ngài khi truyền cho ta, làm điều Ngài đã làm. Mỗi thánh lễ thực hiện một hiến tế, một hành vi tự ý và tự do, không những về phần linh mục là người thực hiện theo nghi lễ, nhưng cả về phía Chúa Kitô, là Đấng đã thiết lập hiến tế đó và nay thực hiện một cách hữu hiệu bằng chính những lời nói của Ngài, đúng như Ngài đã thiết lập.

Để thành một hiến tế, nguyện việc tự hiến dâng mình, chấp nhận mình bị mất đi, chưa đủ: việc hiến dâng việc “ sát tế” này còn phải có mục đích tôn giáo, nghĩa là  dâng để công nhận quyền tối cao của Thiên Chúa. Đó chính là trường hợp của bí tích Thánh Thể vì dâng lên để tạ ơn, nghĩa là để công nhận rằng chúng ta hoàn toàn chịu ơn Thiên Chúa.

Bí tích Thánh thể còn là một hiến tế vì có mối liên lạc cốt yếu với sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô, là hiến tế duy nhất của Ngài. Mối liên lạc này được được biểu lộ ra trong Kinh tưởng niệm (anamisis) đọc ngay sau bài đọc bài tường thuật việc thiết lập. Kinh này không thêm gì cho việc truyền phép  cả và đã được bao gồm trong đó. Nhưng Kinh tưởng niệm nêu rõ mối liên hệ giữa hiến tế tạ ơn đang cử hành với mầu nhiệm phục sinh duy nhất của Chúa Kitô.

Sau hết, hiến tế nào cũng nhằm giúp chúng ta  được “hiệp thông thánh thiện  với Chúa”. Đó là  theo định nghĩa về hiến tế của thánh Âu tinh đã thành cổ điển. Nên  việc truyền phép cũng còn có tính cách hiến tế là vì nó giúp việc hiệp lễ. Một lần nữa, không nên coi việc truyền phép như một tác động biệt lập, nhưng phải coi trong toàn thể những dấu hiệu thánh của thánh lễ, thì mới thấy được rằng việc truyền phép thực hiện một Hiến Tế.

  1. Khi kính nhớ…chúng tôi dâng…”

Câu kết thúc những lời truyền phép đưa ngay đến Kinh tưởng niệm: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Chữ tưởng niệm là dịch từ tiếng Hy Lạp anamesis (cũng như chữ tạ ơn là dịch từ tiếng eucharistia; hai chữ này được dùng trong Phúc Âm và trong thư thánh Phaolô)

Tưởng niệm là nhớ đến. Nhưng, cũng như tạ ơn có nghĩa sâu xa hơn cám ơn, thì tưởng niệm cũng có nghĩa sâu xa hơn là nhắc lại, nhớ lại. Đó là một hành động cụ thể, có thật bề ngoài chứ không phải chỉ ở trong trí nhớ. Đó là bảo đảm, một bằng chứng. Trong các phụng vụ Đông và Tây phương , việc tưởng niệm là đối tượng chính của Kinh nguyện sau truyền phép. Kinh nguyện này không phải là một Kinh thường để tưởng nhớ. Việc tưởng niệm cũng như việc tạ ơn, là một hoạt động, cốt tại việc làm những gì Chúa đã làm như Ngài đã truyền dạy: “ Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (còn nữa)

  Trích: Tìm hiểu thánh lễ A.M. Roguet, bản in ronéo, không ghi dịch giả.

  1. Lời Chúa Chúa nhật XXXI  thường niên năm A

Ba bài đọc trong thánh lễ  trích trong:

  1. Trích sách Malakhi 1,14b-2, 2b. 8-10
  2. Trích thư 1 Thêxalônica 2, 7b-9.13
  3. Trích Phúc Âm theo thánh Matthêu 23, 1-12
  • Bài đọc 1 . Trích thư Malakhi 1,14b-2, 2b. 8-10

Ý chính: Các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường luật dạy.

Không lâu sau các ngôn sứ Khác- gai và Dacaria, ngôn sứ  Malakhi đã can thiệp để chấn chỉnh lại những thói hư tật xấu trong cộng đồng. Qua Malakhi Thiên Chúa tranh luận với những kẻ đòi người trả công nhưng lại không nhận biết tình yêu của Người.

Chúa phán:  Chính Ta là Đức Vua cao cả và danh Ta được kính sợ giữa chư dân”. Chúa phán với các tư tế : Hỡi các tư tế: Nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ khiến các ngươi mắc tai hoạ, Ta sẽ biến phúc lành của các ngươi thành tai hoạ…Các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường luật dạy. Các ngươi đã huỷ hoại giao ước với Lêvi. Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta…”

Họ tự hỏi: “Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế mà sao chúng ta lại bội phản nhau mà vi phạm giao ước của cha ông chúng ta?”

Hỏi tức là trả lời. Các tư tế phải chấn chỉnh lại cách tôn thờ, phụng sự Thiên Chúa, phải đi đúng đường và dạy người khác đi đúng đường Luật dạy, để tránh khỏi tai họa và đón nhận phúc lành dồi dào Chúa ban. Vì tất cả có cùng một Cha trên trời, vị Vua cao cả đáng tôn vinh chúc tụng.

  • Bài Phúc Âm Matthêu  Mt 23,1-12

Ý Chính : Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.

Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ làm việc cốt để cho thiên hạ thấy. Họ đeo hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được người gọi là thầy.

Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy ; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.  Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người chỉ đạo; vì anh em chỉ có một vị chỉ đạo, là Đức Ki-tô. Người làm lớn hơn cả trong anh em, phải làm người phục vụ anh em.

Chúa Giêsu vạch trần và chấn chỉnh thói giả hình, kiêu căng,  tôn mình lên của Các kinh sư và Pharisêu và kết luận :  Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên..” Tức phải hy sinh, phục vụ và khiêm tốn trong công việc vì mọi người là anh em với nhau ”.

  • Bài đọc 2. Trích thư 1 Thêxalônica 2, 7b-9.13:

Ý chính : Chúng tôi sẵn sàng hiến cho anh em, Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa.

Năm 50, thánh Phaolô đến Thêxalônica, một thành phố lớn thủ phủ của miền Makêđônia ( Cv 17,1). Ngài bị người Do Thái chối từ nên quay về phía dân ngoại và đã lập được tại đây một cộng đoàn, nhưng sau ba tháng Ngài phải ra đi. Ngài sai ông Timôthê đến củng cố giáo đoàn non trẻ này. Ông  Timôthê lạc quan trở về. Ngài gửi thư này  vào đầu năm 51. Ngài tỏ lòng tha thiết với cộng đoàn này khi viết: “ chẳng khác nào mẹ hiền đối với con thơ”. Rồi ngài nhắc đến những công việc, những vất vả ngài đã trải qua để rao giảng Tin Mừng, để sửa dạy từng người một. Để có được chỉ một người đón nhận Tin Mừng thôi, người tông đồ phải kiên nhẫn, chiến đấu công phu biết bao.

Ngài quý mến cộng đoàn này đến nỗi  hiến cho họ  Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của ngài nữa vì họ.

Ngài vui mừng tạ ơn Thiên Chúa vì họ đã lắng nghe, đã đón nhận lời Thiên Chúa.

***

Tóm lại ba bài đọc, Chúa đã chấn chỉnh dân Ngài đi theo đường lối Chúa đã vạch ra.   Các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy.(Bđ 1 Ml1,14b-2,2b.8-10)

Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.(Mt 23,1-12)

Người tông đồ sẵn sàng hiến cho anh em mình Tin Mừng của Thiên Chúa và cả mạng sống mình nữa. (Bđ 2 1 Tx 2,7b-9.13)

Lạy Chúa xin cho chúng con luôn tin nhận quyền năng tối thượng của Chúa làm điều Chúa muốn và được Chúa yêu thương chúc phúc.

Tham khảo: Lời Chúa cho mọi người, nxb Tôn Giáo in năm 2009.

02-11-2017 lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời trong năm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima.