Kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh

Đăng ngày

#GNsP 05.05.2019 – Kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh

Bài suy niệm Chúa Nhật III mùa phục sinh năm C

Trích sách tin mừng theo Thánh Gioan chương 21, câu 1- câu 14

Tin Mừng hôm nay viết tiếp câu chuyện về Chúa Phục Sinh. Sau khi hai môn đệ làng Emmau nhận ra Thầy của họ đã sống lại, họ liền vui mừng quay lại
Giêrusalem công bố cho các môn đệ khác về tin mừng Phục Sinh. Đây chính là kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Phục sinh của các môn đệ xưa và cũng là kinh nghiệm của chúng ta hôm nay. Chúng ta đọc ra được điều gì từ chính kinh nghiệm này?

1. Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh
Hai môn đệ làng Emmau có lẽ là nằm trong số 72 môn đệ đã từng được Chúa Giêsu sai đi rao giảng trong các làng mạc từng hai người một. Lần đó, các ông trở về rất vui mừng, hớn hở vì những thành quả mình đã làm được (x. Lc 10,17). Lần đó, Chúa ban các ông có những năng quyền làm những điều phi thường như: trừ được quỷ, chữa lành bệnh tật và có uống nhầm thuốc độc cũng không sao. Chứng kiến niềm vui đó nơi các ông, Chúa Giêsu mặc khải cho các ông về niềm vui sâu lắng hơn “Anh em chớ mừng vì quỷ phải tùng phục anh em nhưng anh em hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10, 20). Thế mà bây giờ Đấng đã từng tuyên bố những điều ấy lại chết thảm thương, dường như sự ác đã thắng. Các ông thất vọng trở về chốn xưa là phản ứng tự nhiên.

Trên hành trình tuyệt vọng trở về, Chúa Phục Sinh đã hiện ra và đồng hành với hai ông nhưng các ông không nhận ra Ngài. Đến khi đồng bàn, nhìn thấy cử chỉ của người khách lạ cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, tạ ơn và bẻ ra tức thì mắt các ông sáng ra và các ông nhận ra Ngài. Chúa Phục Sinh làm một loạt hành động như Ngài đã từng làm. Đó là những cử chỉ đặc trưng của cuộc đời Chúa Cứu Thế. Họ nhận ra qua những cử chỉ ấy là hành động của vị Thiên Chúa giàu lòng xót thương khi chứng kiến đoàn lũ đông đảo không có gì ăn và Ngài đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng. Những cử chỉ ấy xảy ra trong buổi tiệc ly, đỉnh cao cuộc hiến tế khi Ngài chấp nhận đi vào cuộc khổ nạn, hiến mình nhằm ban ơn cứu độ cho muôn người. Chỉ có Thiên Chúa giàu lòng xót thương mới có những cử chỉ rất riêng ấy. Và qua những cử chỉ đó, hai môn đệ đã nhận ra Thầy của mình.

2. Nhận ra Chúa qua thương tích của cuộc khổ nạn còn mang nơi mình
Các môn đệ còn nhận ra Chúa qua những thương tích cuộc khổ nạn mà Chúa Phục Sinh vẫn còn mang nơi mình. Các môn đệ đang bàn tán về điều mà hai môn đệ làng Emmau thuật lại thì Chúa Phục Sinh một lần nữa lại hiện ra với các ông. Quá ngỡ ngàng kinh khiếp, các ông tưởng Ngài là ma. Để trấn an cho các ông, một lần nữa Chúa Giêsu ban lời bình an cho các ông: “Bình an cho anh em!” Sau đó, Chúa Phục Sinh còn cho các ông xem tay, chân để xác nhận đây chính là con người thật. Không chỉ là việc xem tay, chân, Tin Mừng Gioan còn nói rõ hơn là Chúa Giêsu chỉ cho các ông xem những vết thương nơi tay, chân và cạnh sườn. Tại sao Chúa Phục Sinh lại còn mang những dấu vết thương của cuộc khổ nạn trên thân thể? Đây là điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng nói với chúng ta rằng, những dấu vết ấy Chúa Giêsu mang theo về Trời để “chỉ” cho Chúa Cha thấy Ngài đã yêu thương nhân loại đến mức nào, nhờ đó Ngài là Đấng Cầu Bầu cho chúng ta trước mặt Chúa Cha.

3. Lời mời gọi rao giảng Tin Mừng
Sau khi mặc khải cho các môn đệ thấy Ngài đã Phục sinh, Chúa Giêsu mời gọi các ông ra đi rao giảng Tin Mừng. Lời mời gọi này dành cho tất cả chúng ta, những người đã lãnh nhận Phép rửa. Chính lời mời gọi này của Chúa đã khai sinh Giáo hội. Như thế Giáo hội trước hết và trên hết là một dân đang tiến bước trên đường hành hương và dân ấy có sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Giáo hội từ khi khai sinh cho tới nay luôn thực thi mệnh lệnh này của Chúa: rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân. Thánh Gioan Phaolô II cũng đã từng nhắn nhủ các Giám mục cũng như tất cả tín hữu thực thi mệnh lệnh này của Chúa như sau: “muốn hoàn thành vận mệnh Chúa quan phòng cho mình, rao giảng Tin Mừng như là sự rao giảng hân hoan, kiên nhẫn và tiệm tiến về cái chết và sự phục sinh cứu độ của Đức Giêsu Kitô phải là ưu tiên tuyệt đối của anh em” (Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Asia, 1999).
Trong công cuộc rao giảng Tin Mừng, người môn đệ của Chúa phải ý thức rằng mình được mời gọi bước theo Ngài để thực thi những gì chính Ngài đã làm cho dân. Điều mà Chúa Giêsu Kitô đã làm cho dân là bày tỏ lòng thương xót cách cụ thể bằng việc bẻ bánh nuôi sống họ, bằng việc cho họ nhìn thấy “dấu vết ơn cứu độ” vẫn còn lưu giữ trên thân mình Ngài. Người ta chỉ có thể nhận ra Chúa khi thấy chúng ta biết bẻ tấm bánh đời mình là những hy sinh, quảng đại, bác ái cho họ. Cũng vậy, người ta chỉ có thể nhận ra Chúa khi thấy chúng ta đón nhận thập giá đời mình bằng tinh thần vui tươi; biết cách “chỉ” cho con người thấy đằng sau những đau khổ, bất công phải chịu là mầu nhiệm Phục sinh. Sống được những điều ấy, Giáo hội nên những chứng nhân về lòng thương xót của Chúa và sẽ là bí tích ban ơn cứu độ cho con người.

Lm Giuse Trương Hoàn Vũ DCCT